Tìm hiểu các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tìm hiểu các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
        Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) được Quc hi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIV ngày 20 tháng 6 năm 2017 gồm có 26 chương với 426 điều, được thiết kế thành 03 phần, phần thứ nhất: Những quy định chung (gồm 12 chương, từ Điều 01 đến Điều 107); phần thứ hai: Các tội phạm (gồm 14 chương, từ Điều 108 đến Điều 425); và phần thứ ba: Điều khoản thi hành (gồm 01 điều - Điều 426).
        So với BLHS năm 1999 có thể khẳng định BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi một cách cơ bản và toàn din các quy định ca BLHS năm 1999 về tội phạm và hình phạt để đáp ứng kịp thời thi yêu cu công tác đấu tranh phòng chng ti phm trong thi kỳ mi, một trong những nội dung được nghiên cứu sửa đổi trong BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đó là vn đề min trách nhim hình sự.
        1. Khái niệm và đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự
        Miễn trách nhiệm hình sự là mt trong nhng chế định quan trng trong lut hình sự nước ta, thể hiện chính sách khoan hng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người phm ti và hành vi do họ thực hiện, đồng thời, qua đó  nhằm động viên, khuyến khích người phm ti lp công chuc ti, chng tỏ khả năng giáo dc, ci to nhanh chóng hòa nhp vi cộng đồng và giúp họ trở thành người có ích cho xã hi. Mc dù có ý nghĩa quan trng như vậy nhưng khái nim min trách nhim hình sự vẫn chưa được nhà làm lut nước ta ghi nhn chính thc trong pháp lut hình sự thực định, tuy nhiên qua nghiên cứu các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 29 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có thể hiểu một cách khái quát miễn trách nhiệm hình sự như sau:
        Miễn trách nhiệm hình sự là việc không bắt buộc một người phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã thc hin1.
        Nghiên cứu về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự có thể xác định miễn trách nhiệm hình sự hoàn toàn khác với trường hợp không có trách nhiệm hình sự. Người được miễn trách nhiệm hình sự tức là người đã phạm một tội được quy định trong Bộ luật hình sự nhưng được miễn trách nhiệm hình sự. Còn người không có trách nhiệm hình sự là người mà hành vi của họ không có sự sai trái hoặc hành vi của họ tuy có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhưng mức độ nguy hiểm không lớn nên không coi là tội phạm mà chỉ đáng xử lý về hành chính. Miễn trách nhiệm hình sự có một số đặc điểm sau:
        - Thứ nhất, miễn trách nhiệm hình sự là sự phản ánh rõ nét nhất nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và luật hình sự nói riêng trong một Nhà nước.
        - Thứ hai, miễn trách nhiệm hình sự là sự xóa bỏ hoàn toàn hậu quả pháp lý của việc thực hiện một tội phạm chỉ được đặt ra đối với người nào là chủ thể của chính tội phạm ấy, lẽ ra nếu không đủ căn cứ để được miễn trách nhiệm hình sự thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
        - Thứ ba, phụ thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể, miễn trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện bởi một cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý hồ sơ vụ án. Cụ thể, đó là Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Tòa án (các điều 230, 285 và 282 BLTTHS năm 2015), khi đảm bảo các căn cứ pháp lý và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định.
        2. Quy định của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự
        Nghiên cứu BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), vấn đề miễn trách nhiệm hình sự được ghi nhận trong nhiều điều luật ở phần những quy định chung và phần tội phạm cụ thể:
        - Một là, trong phần những quy định chung, những trường hợp miễn trách nhiệm hình sự được ghi nhận tại đoạn 2 Điều 16, Điều 27, Điều 29 và khoản 2 Điều 91 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể:
        + Thứ nhất, theo đoạn 2 điều 16 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phm hoặc trường hợp hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Khoản 1 Điều 27 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Những trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do đã hết thời hiệu được quy định tại khoản 2 Điều 27 BLHS năm 2015 là những trường hợp mà lẽ ra người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự (vì có cơ sở của trách nhiệm hình sự) nhưng Nhà nước quy định là không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ thể hiện tính nhân đạo của pháp luật vì qua một thời hạn nhất định họ đã không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, không cần thiết phải áp dụng biện pháp cưỡng chế của luật hình sự.
        + Thứ hai, tại điều 29 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) ghi nhận các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và có thể được miễn trách nhiệm hình sự, bao gồm:
        Điu 29. Căn cứ miễn trách nhim hình s
        1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:
        a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
        b) Khi có quyết định đại xá.
        2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:
        a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
        b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;
        c) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
        3. Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
        Nghiên cứu căn cứ miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 29 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có thể nhn thy so vi BLHS năm 1999, BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã cụ thể hóa các trường hợp được min trách nhim hình sự theo hướng: Phân bit các trường hợp đương nhiên được min trách nhim hình sự và trường hợp cụ thể được miễn trách nhiệm hình sự; trong phần có thể được miễn trách nhiệm hình sự, BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) còn bổ sung một số trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự để đảm bảo với tình hình thực tiễn hiện nay đó là trường hp được ghi nhận tại điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 29 BLHS.
        + Thứ ba, theo khoản 2 điều 91 BLHS sửa đổi 2017, người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:
        Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này (đim a khon 2 Điều 90);
        Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sn; Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (Tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (Tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (Tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (Tội chiếm đoạt chất ma túy của Bộ luật này điểm b khoản 2 Điều 90).
        Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án (điểm c khoản 2 Điều 90).
        Nghiên cứu vấn đề miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa đủ 18 tuổi trong BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có thể nhận thấy có một số điểm mới so với quy định tại điều 69 BLHS năm 1999, cụ thể: BLHS năm 1999 không quy định miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa đủ 18 tuổi phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng kèm theo các biện pháp giám sát, giáo dục họ, còn trong BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi chế định này theo hướng bổ sung mới quy định: Khi quyết định miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phi áp dng mt trong các bin pháp giám sát, giáo dục (quy định tại Mục C, Chương XII), đối với họ bao gồm: Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn (các điều từ 93 đến 95). Đối với biện pháp tư pháp chỉ áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại các trường giáo dưỡng.
        - Hai là, các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự trong phần các tội phạm cụ thể:
        + Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội gián điệp. Khoản 4 Điều 110 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2017 quy định: “Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không được thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự”.
        Đây là dạng miễn trách nhiệm hình sự có tính chất bắt buộc đối với tất cả các cơ quan tư pháp hình sự khi có cơ sở cho thấy người tuy đã nhận làm gián điệp có đầy đủ các căn cứ pháp lý như “không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền” thì được miễn trách nhiệm hình sự.
        + Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội hối lộ
        Đối vi hành vi đưa hối lộ, mặc dù cũng là hành vi nguy hiểm và cũng bị trừng trị rất nghiêm khắc như đối vi tội nhận hối lộ, tuy nhiên, đối với người không bị ép buộc phải đưa hối lộ nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì chính sách hình sự đối với họ là rất khoan hồng. Vì vậy, đoạn 2 khoản 7 Điều 364 Bộ luật hình sự quy định: “… Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng đưa hối lộ.”
        Chủ động khai báo trước khi bị phát hiện là trường hợp việc đưa hối lộ chưa bị phát giác mà người đưa hối lộ đã tự mình viết đơn hoặc trực tiếp đến cơ quan, tổ chức khai báo toàn bộ sự việc đưa hối lộ mà mình thực hiện. Nếu việc đưa và nhận hối lộ đã bị phát hiện, thấy không còn cách nào che giấu được hành vi phạm tội của mình nữa mới tố giác, thì dù người đưa hối lộ có chủ động khai báo cũng không được loại trừ trách nhiệm hình sự. Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.
        + Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội môi giới hối lộ
        Khoản 6 Điều 365 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự”. Đối với hành vi làm môi giới hối lộ, người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Chủ động khai báo trước khi bị phát giác là trường hợp đã thực hiện hành vi môi giới hối lộ; việc đưa và nhận hối lộ chưa thực hiện hoặc đã thực hiện nhưng chưa bị phát giác mà người làm môi giới hối lộ đã tự mình viết đơn hoặc trực tiếp đến cơ quan, tổ chức khai báo toàn bộ sự việc phạm tội mà mình thực hiện, góp phần vào việc ngăn chặn, phát hiện hoặc điều tra tội phạm.
        Chủ động khai báo trước khi hành vi bị phát hiện được coi như là trường hợp tự thú nên có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Có thể coi quy định tại khoản 6 Điều 365 Bộ luật hình sự là trường hợp miễn trách nhiệm hình sự đối với hành vi làm môi giới hối lộ, nên khi xác định trường hợp này phải đối chiếu với các quy định về miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 29 Bộ luật hình sự.
        + Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội không tố giác tội phạm
        Khoản 2 Điều 390 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người không tố giác nếu đã hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.” Đây là dạng miễn trách nhiệm hình sự có tính chất tùy nghi đối với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có cơ sở cho thấy người tuy không tố giác tội phạm có đủ căn cứ do luật định như “đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm.”
        Ngoài các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự được ghi nhận trong BLHS sửa đổi 2017, nghiên cứu tại khoản 2 Điều 155, điểm b khoản 1 Điều 230, khoản 1 Điều 248 và Điều 282 của BLTTHS năm 2015, thì những vụ án hình sự (về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của BLHS năm 2015) đã được khởi tố theo yêu cầu của bị hại hoặc của người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết; nếu người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên toà sơ thẩm, thì vụ án phải được đình chỉ (trừ trường hợp người rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức). Trong trường hợp này, thực chất Nhà nước cũng không truy cứu trách nhiệm hình sự với người đã phạm tội.

Tác giả bài viết: Nguyễn Tiến Nam

Nguồn tin: Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 99