Tìm hiểu quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về khởi tố vụ án theo yêu cầu bị hại

Tìm hiểu quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về khởi tố vụ án theo yêu cầu bị hại
        Khởi tố vụ án hình sự (VAHS) là giai đoạn mở đầu của quá trình tố tụng hình sự. Trong đó, các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Giai đoạn này bắt đầu khi phát hiện những nguồn thông tin về tội phạm và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Việc khởi tố vụ án hình sự kịp thời và có căn cứ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tiếp theo cũng như đảm bảo không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Ngược lại, việc khởi tố không đúng sẽ dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.
        Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS) quy định một số tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Điều này có nghĩa là khi có một trong các tội phạm xảy ra ngoài căn cứ là “sự việc có dấu hiệu tội phạm”, cơ quan có thẩm quyền phải nhận được yêu cầu của bị hại mới được khởi tố vụ án, nếu không việc khởi tố này là trái pháp luật. Nếu vụ việc đã được khởi tố theo yêu cầu của bị hại và trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ (trừ trường hợp rút đơn yêu cầu trái với ý muốn của bị hại). Qua quá trình nghiên cứu, tác giả mong muốn hiểu một cách sâu sắc và có hệ thống về các quy định trong chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại. Từ đó có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề này, đồng thời hieru rõ hơn về một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn nhằm hiểu rõ hơn về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại. Vì lẻ đó, tác giả đã chọn vấn đề: “Tìm hiểu quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại”để cùng nghiên cứu và trao đổi.
        Trong lịch sử lập pháp ở nước ta, trước khi BLTTHS được ban hành thì chưa từng có một chế định cụ thể nào quy định về quyền yêu cầu khởi tố của người bị hại. Quan niệm phổ biến lúc đó không chấp nhận việc khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại bởi vì: Quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội. Trong đó với tư cách là người bảo vệ lợi ích của toàn xã hội, Nhà nước có quyền khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử người phạm tội, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ đã gây ra. Tuy nhiên, quá trình xây dựng pháp luật, nhà lập pháp cũng nhận thấy “quyền tư tố” của người bị hại cũng được xã hội chấp nhận khi nó ở trong giới hạn nhất định và không làm ảnh hưởng đến quyền công tố của Nhà nước. Chính vì thế, chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại đã được thể hiện qua các lần lập pháp về TTHS như sau:
        - BLTTHS năm 1988 đã chính thức ghi nhận chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại. BLTTHS năm 2003 tiếp tục ghi nhận chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại đã cho thấy sự cần thiết của chế định này trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự của nước ta;
        - Theo Điều 105 BLTTHS năm 2003, đó là các trường hợp quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122 và 171 BLHS về các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác; vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; hiếp dâm; cưỡng dâm; làm nhục người khác; vu khống; xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Theo đó, các tội này chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
        - BLTTHS năm 2015 lại tiếp tục ghi nhận chế định này nhưng có sự sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn áp dụng. Tại Điều 155 quy định: Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết” (Khoản 1). Ngoài ra, tại khoản 2 cũng có những quy định liên quan đến khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại đó là: “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án”. Đồng thời, khoản 3 Điều 62 quy định: “Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa”. Như vậy, về cơ bản các tội phạm khởi tố theo yêu cầu bị hại vẫn được quy định như trước đây, bao gồm các tội danh sau: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; Tội hiếp dâm; Tội cưỡng dâm; Tội làm nhục người khác; Tội vu khống; Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.
        Điểm mới của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003 là ở khoản 2 của điều này quy định về trường hợp người đã yêu cầu khởi tố “rút yêu cầu” thì vụ án phải được đình chỉ,Trong khi đó BLTTHS 2003 quy định trường hợp người đã yêu cầu khởi tố “rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm” thì vụ án phải được đình chỉ... Như vậy, BLTTHS năm 2003 đã quy định cụ thể thời điểm người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu là trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm. Đây là quyền của người đã yêu cầu khởi tố, điều này có nghĩa là tại phiên tòa sơ thẩm thì người đã yêu cầu khởi tố không có quyền này nữa. Ngược lại, BLTTHS 2015 thì chỉ quy định một cách chung chung và không xác định rõ thời điểm rút yêu cầu nà chỉ quy định người đã yêu cầu khởi tố “rút yêu cầu” thì vụ án phải được đình chỉ. Theo chúng tôi, quy định này “rộng và mở” hơn so với trước đây nhằm khắc phục nhiều điểm hạn chế, bất cập, gây ra những khó khăn nhất định cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình áp dụng vào thực tiễn. Quy định này đã mở rộng quyền con người, quyền công dân trong TTHS, người đã yêu cầu khởi tố có quyền rút yêu cầu khởi tố ở giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Trong bốn giai đoạn này, nếu người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố thì vụ án phải được đình chỉ. Tuy nhiên, người đã yêu cầu khởi tố có quyền rút yêu cầu khởi tố ở thời điểm nào trong giai đoạn xét xử, đây là vấn đề cần phải có cách hiểu đúng để áp dụng pháp luật được thống nhất. Theo chúng tôi, vấn đề này được hiểu như sau:
        Một là, theo quy định tại Điều 319 BLTTHS năm 2015 thì “Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn”. Đây là quyền của Kiểm sát viên giữ quyền công tố khi tham dự phiên tòa, sau khi kết thúc phần xét hỏi thì nhận thấy tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì Kiểm sát viên sẽ xem xét để quyết định vấn đề này. Như vậy, để đảm bảo quyền của người đã yêu cầu khởi tố (quyền tư tố), theo chúng tôi thì người đã yêu cầu khởi tố có quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự sau khi kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm;
        Hai là, trong trường hợp vụ án có nhiều bị hại, nếu họ tham gia tố tụng với tư cách độc lập (không có đại diện) thì việc một bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án thì chưa thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 155 mà phải tất cả bị hại đều rút yêu cầu khởi tố vụ án thì mới thuộc trường hợp đình chỉ. Việc rút yêu cầu khởi tố vụ án của một bị hại trong số nhiều bị hại có thể coi là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải nói rõ trong bản án. Tuy nhiên, vấn đề này theo chúng tôi cũng cần phải có hướng dẫn để áp dụng thống nhất.
        Tóm lại, về nguyên tắc chung, khởi tố VAHS là quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm duy trì trật tự và công lý, không phụ thuộc vào ý muốn cá nhân và không ai có thể can thiệp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, pháp luật quy định cho phép bị hại lựa chọn quyền yêu cầu khởi tố hoặc không khởi tố vụ án. Đây là những trường hợp mà hành vi phạm tội vừa xâm phạm trật tự xã hội, vừa xâm phạm đến thể chất, sức khoẻ, danh dự của người bị hại. Những trường hợp này nếu khởi tố vụ án, lợi ích về mặt xã hội thu được có thể không lớn mà còn có khả năng làm tổn thương thêm về mặt tinh thần cho người bị hại. Vì vậy, các nhà làm luật đã xác lập một khả năng, điều kiện để bị hại cân nhắc, quyết định có yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý về mặt hình sự đối với hành vi phạm tội hay không. Với quy định đó, nhà làm luật tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội thuận lợi để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, hạn chế việc gây thêm những tổn thất, mất mát về mặt tinh thần, danh dự không cần thiết có thể có đối với bị hại. /.

Tác giả bài viết: Trương Trọng Kiệt – Trường Đại học CSND