Những điểm mới về tội mua bán người được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Những điểm mới về tội mua bán người được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Nhằm xử lý ngày càng có hiệu quả đối với tội phạm mua bán người, Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung về tội mua bán người và một số tội phạm khác có liên quan. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích, làm rõ những điểm mới về tội mua bán người được quy định ở Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), qua đó giúp cán bộ thực thi pháp luật nắm rõ những điểm mới bổ sung và ngày càng hoàn thiện về tội danh này.
         Tội mua bán người, tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, người thực hiện tội phạm đã xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự, quyền tự do, quyền làm người của nạn nhân, coi con người như một món hàng hóa để mua, bán, trao đổi nhằm mục đích kiếm lợi nhuận... Chính vì vậy, đáp ứng yêu cầu ngày càng hoàn thiện, đảm bảo tính răn đe, kịp thời xử lý có hiệu quả đối với tội phạm xảy ra, tội mua bán người được quy định ở Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có những thay đổi khá lớn trong cấu thành cơ bản của điều luật. Cụ thể:
          Trước hết, về hành vi khách quan: Tội mua bán người được quy định tại Điều 119 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thể hiện chủ yếu là hành vi “mua”, “bán” con người để lấy tiền, hàng hóa hoặc các lợi ích khác. Tức là, không bao gồm các hành vi mà trước đó, để có được con người - nạn nhân để trao đổi mua bán, bóc lột nhằm tái sinh lợi nhuận, tội phạm phải trải qua và thực hiện nhiều hành vi khác như: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng các thủ đoạn khác để tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và tiếp nhận người (là những hành vi khác, phổ biến bên cạnh hành vi “mua”, “bán” xảy ra trong toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội). Thực tế thời gian vừa qua, đa số những đối tượng thực hiện hành vi này sẽ bị xử lý theo các quy định pháp luật tương ứng trong BLHS như: Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, trong trường hợp chứng minh được một người thực hiện hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp hoặc tiếp nhận người với mục đích mua bán người, thì họ mới bị xử lý về tội mua bán người với vai trò đồng phạm, nhưng điều này là rất khó khăn.
          Với quy định như trên, thực tế đã khiến cho việc phát hiện, xử lý tội phạm mua bán người gặp nhiều khó khăn, thậm chí không xử lý hoặc bỏ lọt tội phạm vì việc tìm ra các chứng cứ để chứng minh các đối tượng có hành vi “mua” và “bán” không hề dễ dàng. Không ít nạn nhân bị bắt cóc, lừa gạt, mua đi bán lại nhiều lần, có trường hợp việc mua bán người được thực hiện dưới hình thức “gán nợ”, “thiếu nợ”, nạn nhân bị đối tượng bán qua nhiều nơi và việc nhận tiền được thực hiện sau đó, hoặc nạn nhân chi trả dần cho đối tượng mua trong quá trình bị bóc lột. Nhiều trường hợp khác, nạn nhân bị bắt cóc, bị buộc phải bán dâm, nhưng vì không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc giao người - nhận tiền nên các cơ quan tiến hành tố tụng không xử lý được về Tội mua bán người theo Điều 119 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)[1].
          Khắc phục điểm hạn chế mắc phải trong thời gian vừa qua, tội mua bán người được quy định ở BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), mặc dù tên gọi không thay đổi, nhưng nội hàm “mua” và “bán” quy định trong điều luật đã được chỉ rõ bằng những hành vi cụ thể mà tội phạm thường hay thực hiện như: “Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng các thủ đoạn khác” để có được nạn nhân trong quá trình: “Tuyển mộ”, “vận chuyển”, “chứa chấp” và “chuyển giao”, “tiếp nhận người” nhằm thực hiện hành vi mua bán người. Đây là những thay đổi mang tính cơ bản, phản ánh đúng thực tế khách quan những hành vi phổ biến mà tội phạm mua bán người thường thực hiện trong quá trình phạm tội.
          Theo đó, Điều 150 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về Tội mua bán người: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm...”
          Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
          Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
          Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.”
          Việc quy định yếu tố “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng các thủ đoạn khác” trong cấu thành của điều luật lần này có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng thu thập chứng cứ, làm rõ trách nhiệm hình sự và xác định tội danh. Thực vậy, hành vi mua bán người dù có được che đậy như thế nào, thì bản chất luôn được tội phạm thực hiện trái ý muốn của nạn nhân, ngay cả trong trường hợp nạn nhân hoàn toàn “đồng tình” hay “chấp thuận” bằng những bản “hợp đồng giấy tay” tự nguyện cộng tác, thì ẩn chứa đằng sau là những thủ đoạn ép buộc, gán nợ, dùng vũ lực mà tội phạm thường gây ra cho nạn nhân.
          Thêm vào đó, thời gian qua, trong quá trình đấu tranh với loại tội phạm này, nhiều trường hợp cán bộ thực thi pháp luật chưa có cơ sở pháp lý vững chắc để phân biệt, làm rõ giữa tội phạm mua bán người và các loại tội phạm khác có liên quan như: Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài, chứa mại dâm, môi giới mại dâm hay môi giới kết hôn, môi giới lao động. Do vậy, việc làm rõ trước và trong quá trình thực hiện tội phạm mua bán người, đối tượng đó đã có những hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng các thủ đoạn khác là cần thiết, sẽ giúp cơ quan điều tra xác định rõ đâu là hành vi mua bán người vốn đặc trưng bởi yếu tố bạo lực, hăm dọa, cưỡng ép hoặc lừa gạt. và đâu là các hành vi phạm tội khác mà các yếu tố về bạo lực thường không tồn tại hoặc nếu có thì tính chất cũng rất khác.
          - Mặt chủ quan: Tội phạm mua bán người được quy định ở Điều 119, BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, có mục đích chủ yếu là vụ lợi, “đổi người lấy tiền”, nhưng ở BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), ngoài tính vụ lợi, yếu tố chủ quan được cụ thể hóa, và thể hiện rõ tính nguy hiểm của tội phạm mua bán người bằng việc bổ sung yếu tố mục đích của tội phạm là nhằm bóc lột: “Để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác”2. “Lợi ích” mà tội phạm hướng tới khi thực hiện hành vi phạm tội này không chỉ là khoản tiền lợi ích thu được từ việc mua bán người mà là những lợi ích lớn hơn, lợi ích lâu dài thu được từ việc “bóc lột” nạn nhân. Mặt khác, quy định yếu tố mục đích “bóc lột” còn là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt tội phạm mua bán người với một số tội phạm khác như: Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân quy định tại Điều 120 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Thực tế điều tra, truy tố, xét xử thời gian qua cho thấy, có những trường hợp môi giới lao động, môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài, về hình thức thì có dấu hiệu cấu thành tội mua bán người tại Điều 199 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), nhưng “nạn nhân” trong những trường hợp này không bị thiệt hại gì, cũng như không bị “bóc lột”. Đối với trường hợp này, nếu xử lý về tội mua bán người là không hợp lý, không phục vụ được mục đích đấu tranh phòng, chống tội phạm.
          - Về hậu quả của hành vi mua bán người: Nếu như trước đây, ở Điều 119 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) hậu quả của hành vi mua bán người được thể hiện chủ yếu là con người đó đã bị đem ra “mua”, “bán”, điều này chưa thể hiện hết những gì mà tội phạm đã gây ra cho nạn nhân trong các vụ mua bán người. Mặt khác, nếu chỉ dựa vào hành vi “mua và bán” thực tế rất khó chứng minh và đôi khi bị nhầm lẫn giữa Tội mua bán người và tội danh khác liên quan đến hành vi di cư bất hợp pháp (đều có dấu hiệu trao đổi tiền và con người sau khi kết thúc hợp đồng di chuyển), thì tại Điều 150 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hậu quả của tội phạm mua bán người đã được bổ sung đó là: Nạn nhân bị bóc bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.
          Việc bổ sung điểm mới này, có ý nghĩa giúp cho Cơ quan điều tra dễ dàng hơn trong việc xác định thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm, cũng như xác định tội danh được chính xác.
          - Về hình phạt: Điều 119 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định khung hình phạt đối với Tội mua bán người như sau: Khoản 1 có khung hình phạt từ 2 năm đến 7 năm; Khoản 2 có khung hình phạt từ 5 năm đến 20 năm. Mức phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 năm đến 5 năm.
          So với BLHS năm 1999, thì tại Điều 150 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định cụ thể hơn các hành vi mua bán người và mức hình phạt cao hơn (Khoản 1 có khung hình phạt từ 5 năm đến 10 năm tù; khoản 2 có khung hình phạt từ 8 năm đến 15 năm tù và khoản 3 có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù. Mức phạt tiền cũng tăng từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, người phạm tội có thể còn bị tịch thu tài sản).
          Như vậy, đáp ứng yêu cầu đấu tranh ngăn chặn tội phạm mua bán người đang có những diễn biến phức tạp hiện nay, BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về tội mua bán người. Việc sửa đổi này phù hợp với nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị tội phạm buôn bán người của pháp luật quốc tế, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong phòng, chống lọai tội phạm này thời gian vừa qua.
 
        Tài liệu tham khảo
          1. Quốc Hội (1999), Bộ luật hình sự năm 1999.
          2. Quốc hội (2009), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999.
          3. Quốc Hội (2015), Bộ luật hình sự năm.
          4. Quốc Hội 2017, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2017.
         5. Bùi Văn Thành (2015), “Định nghĩa của Liên hiệp quốc về buôn bán người và thực tiễn áp dụng pháp luật về Tội mua bán người của Việt Nam”. Tạp chí Công an nhân dân, kỳ 1, tháng 11/2015.
 

[1] Bùi Văn Thành (2015), “Định nghĩa của Liên hiệp quốc về buôn bán người và thực tiễn áp dụng pháp luật về Tội mua bán người của Việt Nam”, Tạp chí Công an nhân dân, kỳ 1, tháng 11/2015.

Tác giả bài viết: Bùi Văn Thành - Trường Đại học CSND

Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số tháng 9/2018