Điều kiện loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp “gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội”

Điều kiện loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp “gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội”
         “Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội” là một trong những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự mới được BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tại Điều 24, pháp điển hóa này phù hợp với pháp luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới; phù hợp với lý luận về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự; cũng như phù hợp với yêu cầu thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm đang đặt ra hiện nay. Trong quá trình xây dựng BLHS năm 2015, nội dung quy định về trường hợp “gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội” đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp và cơ bản đã đáp ứng được các yêu cầu đặt ra. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả của quy định này vào thực tiễn, đòi hỏi cần có sự thống nhất về mặt nhận thức liên quan đến các điều kiện để được loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp này. Với mục đích đó, trong phạm vi bài viết, chúng tôi sẽ đề cập làm rõ về điều kiện để loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội để quý bạn đọc cùng trao đổi.
        Điều 24. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội
        1. Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.
        2. Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.
        Để xác định trường hợp gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội không phải là tội phạm và được loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 24 BLHS năm 2015, theo chúng tôi cần phải thỏa mãn một số điều kiện sau:
        Thứ nhất, chủ thể nhận thức được có người phạm tội cần phải được bắt giữ (cơ sở phát sinh quyền được bắt giữ người khác)
        Đối với người vừa mới thực hiện hành vi phạm tội: Chủ thể trực tiếp nhìn thấy hoặc thông qua các phương tiện quan sát thấy được có người vừa mới thực hiện hành vi phạm tội hoặc nghe thấy (qua thông tin từ phía nạn nhân, của những người trực tiếp chứng kiến vụ việc hoặc những người đang tham gia đuổi bắt đối tượng…). Khoản 1 Điều 24 BLHS năm 2015 quy định “Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội…”, quy định này cho thấy rằng, sự nhận thức của chủ thể ở đây là nhận thức về hành vi phạm tội của đối tượng, chứ không cần nhận thức đầy đủ về các yếu tố cấu thành của tội phạm mà đối tượng đã thực hiện; hành vi của đối tượng có thể xác định được ngay là tội phạm (giết người, cướp tài sản, cướp giật tài sản…) nhưng cũng có thể chỉ chứa đựng tính chất mức độ nguy hiểm nhất định mà thôi (cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng…) vì chủ thể không thể nhận thức ngay được hậu quả xảy ra có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không. Hành vi phạm tội này đã thật sự chấm dứt trên thực tế, nếu chủ thể có hành vi chống trả, bắt giữ người đang thực hiện hành vi phạm tội thì xem xét ở trường hợp phòng vệ chính đáng mà không xem xét ở trường hợp này. Cũng cần lưu ý rằng, quá trình đuổi bắt đối tượng phải diễn ra liên tục, không có sự gián đoạn về mặt thời gian, trường hợp mặc dù chủ thể có tận mắt chứng kiến hành vi phạm tội của đối tượng nhưng một thời gian sau mới phát hiện ra đối tượng thì sẽ không phát sinh quyền được bắt giữ ở đây, nhận thức về vấn đề này hoàn toàn phù hợp với lý luận của trường hợp bắt người phạm tội quả tang được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự. 
        Đối với người đang có quyết định truy nã: Chủ thể phải có những thông tin cụ thể, chính xác và xác nhận đúng là đối tượng đang có quyết định truy nã của cơ quan có thẩm quyền thì mới có cơ sở phát sinh quyền bắt giữ người trong trường hợp này. Nếu thông tin còn mơ hồ, chưa chắc chắn, dẫn đến trường hợp bắt giữ nhầm người và gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì tùy từng trường hợp cụ thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.
        Đối với người bị bắt giữ theo quy định của pháp luật (bị bắt trong trường hợp khẩn cấp; bị bắt để tạm giam; bị bắt theo yêu cầu dẫn độ…): Trường hợp này quyền bắt giữ chỉ phát sinh đối với những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục. Tuy nhiên, nếu người bị bắt giữ có hành vi chống trả lại lực lượng bắt giữ nhằm tẩu thoát, theo chúng tôi, trong trường hợp này, bất kể người nào có mặt tại nơi bắt giữ cũng sẽ phát sinh quyền được bắt giữ nhằm hỗ trợ cho người có thẩm quyền bắt giữ được đối tượng. Đây cũng là vấn đề cần phải có sự nhận thức đúng đắn trong quá trình áp dụng vào thực tiễn.
        Thứ hai, việc sử dụng vũ lực đối với người bị bắt giữ là cách duy nhất
        Về cơ sở phát sinh quyền được dùng vũ lực: Khi đã phát sinh quyền được bắt giữ người khác, chủ thể cũng cần phải nhận thức về tính cấp bách của việc bắt giữ, tức là phải có hành động bắt giữ ngay đối tượng bằng việc sử dụng vũ lực nếu không đối tượng sẽ tẩu thoát, tiếp tục trốn tránh hay có thể thực hiện một hành vi phạm tội khác. Chủ thể nhận thức việc cần dùng vũ lực đối với người bị bắt giữ thông qua biểu hiện cụ thể của đối tượng như đối tượng có hành động bỏ chạy, cố thủ trong nhà, trên xe ôtô, dùng vũ lực tấn công lại những người bắt giữ… Chúng tôi có thể gọi đây là cơ sở phát sinh quyền được dùng vũ lực trong trường hợp này. Nếu đối tượng sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã không còn khả năng phản kháng, chống cự (có thể do hành vi phòng vệ của nạn nhân hay người khác gây ra…) hoặc đang đến cơ quan chức năng để đầu thú hay đối tượng chấp hành theo yêu cầu của người thi hành lệnh bắt, thì dĩ nhiên không có cơ sở cho việc sử dụng vũ lực.
        Việc sử dụng vũ lực đối với người bị bắt giữ là cách duy nhất: Không phải nhất thiết lúc nào có cơ sở cho việc dùng vũ lực thì phải dùng vũ lực ngay, mà việc sử dụng vũ lực đối với người bị bắt giữ phải là cách duy nhất. Nghĩa là chủ thể không còn cách nào khác, việc sử dụng vũ lực là cách duy nhất và cuối cùng, thể hiện tính không thể không thực hiện để đạt được mục đích bắt giữ người phạm tội. Xác định việc sử dụng vũ lực đối với người phạm tội là cách duy nhất hay chưa cần phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, chẳng hạn: Nếu đối tượng có thái độ phản kháng nhưng tính chất phản kháng không mạnh, có thể sử dụng các biện pháp khác như tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục, thậm chí đe dọa sử dụng vũ lực với đối tượng… vẫn mang lại hiệu quả thì không cần phải sử dụng vũ lực, nhưng khi đã áp dụng các biện pháp đó mà không có hiệu quả thì có thể sử dụng vũ lực để khống chế, bắt giữ đối tượng, lúc này lại là cách duy nhất; trường hợp sự phản kháng của đối tượng ở mức độ mạnh, có tính nguy hiểm cao, nhận thấy việc sử dụng các biện pháp khác khả năng không có hiệu quả (thông qua việc đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của đối tượng, thái độ, công cụ, phương tiện đối tượng sử dụng, nhân thân của đối tượng…) thì việc sử dụng vũ lực ngay có thể được coi là cách duy nhất; còn trong trường hợp người phạm tội có hành vi dùng vũ lực chống trả lại những người tham gia bắt giữ thì việc người bắt giữ sử dụng vũ lực trong trường hợp này lại thể hiện sự tất yếu và được coi là cách duy nhất để đạt được hiệu quả.
        Thứ ba, thiệt hại xảy ra phải cho chính người bị bắt giữ
        Điều kiện này xuất phát từ mục đích của việc bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội là nhằm ngăn chặn, khống chế, bắt giữ được đối tượng, mọi hoạt động bắt giữ phải hướng tới việc làm cho họ phải chịu khuất phục, không thể và không còn khả năng trốn thoát. Cho nên, chủ thể phải sử dụng vũ lực (dùng chân, tay hoặc công cụ, phương tiện…) tác động lên người bị bắt giữ, từ đó gây thiệt hại cho chính họ. Nếu dùng vũ lực gây thiệt hại cho những người khác không có hành vi cản trở việc bắt giữ đối tượng (bạn bè, người thân thích của họ…), có thể người bị bắt giữ sẽ chịu khuất phục nhưng việc gây thiệt hại đó không phải là bản chất của hoạt động bắt giữ, người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong trường hợp này phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
        Trường hợp khi bắt giữ người phạm tội, người tham gia bắt giữ gặp phải sự cản trở, chống đối của những người khác để giúp cho người bị bắt giữ tẩu thoát (dùng vũ lực tấn công người tham gia bắt giữ, dùng phương tiện chở đối tượng tẩu thoát…) và những người tham gia bắt giữ không còn cách nào khác là phải dùng vũ lực với người có hành vi cản trở này để có thể bắt giữ được đối tượng và gây thiệt hại cho họ. Theo chúng tôi, trong trường hợp này, khi những người khác có hành vi cản trở, chống đối người tham gia bắt giữ thì chính bản thân họ đã trở thành người thực hiện hành vi phạm tội (hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác, hành vi chống người thi hành công vụ, hành vi che giấu tội phạm...) và cũng cần bị bắt giữ; lúc này vẫn thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 24 BLHS năm 2015.
        Khi những người tham gia bắt giữ dùng vũ lực đối với người bị bắt giữ thì thiệt hại gây ra thường là tính mạng hoặc sức khỏe của người bị bị bắt giữ. Nhưng thực tế cho thấy có những trường hợp, trong khi bắt giữ người phạm tội, người tham gia bắt giữ đã gây thiệt hại về tài sản cho người bị bắt giữ hay bất kỳ người nào và việc gây thiệt hại này là cần thiết để có thể bắt giữ được người thực hiện hành vi phạm tội, như: phá cửa xe ô tô, cửa nhà nơi đối tượng cố thủ, dùng xe tông vào phương tiện mà đối tượng đang dùng để tẩu thoát… thì trách nhiệm hình sự được đặt ra như thế nào, Điều 24 BLHS năm 2015 có điều chỉnh không? Đây cũng là vấn đề đang được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và cán bộ thực tiễn[1]. Về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, với tính chất của việc sử dụng vũ lực thì hậu quả xảy ra không chỉ là tính mạng, sức khỏe mà có thể là thiệt hại về tài sản (tài sản trên người đối tượng bị rơi, vỡ, phương tiện đối tượng đang di chuyển bị té ngã gây hư hỏng…); do đó, khi bắt giữ người phạm tội mà người tham gia bắt giữ có gây thiệt hại về tài sản cho chính người bị bắt giữ một cách cần thiết thì vẫn thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 24 BLHS năm 2015.
        Thứ tư, việc gây thiệt hại cho người bị bắt giữ phải ở mức độ cần thiết
        Khi đã lựa chọn biện pháp sử dụng vũ lực đối với người bị bắt giữ thì không phải có thể gây thiệt hại đến mức độ nào cũng được mà thiệt hại gây ra cho người bị bắt giữ phải ở mức độ cần thiết. Tính cần thiết ở đây được hiểu là ở mức độ vừa phải, có giới hạn nhất định, đủ để làm tê liệt sự phản kháng của đối tượng, đủ để bắt giữ, khống chế được đối tượng, có như vậy mới loại trừ trách nhiệm hình sự cho người gây ra thiệt hại. Đây là một điều kiện quan trọng để xác định việc gây thiệt hại khi bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội có phải là tội phạm hay không. Nếu trường hợp người bắt giữ sử dụng vũ lực gây thiệt hại rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.
        Vấn đề quan trọng là chúng ta phải xác định như thế nào là mức độ cần thiết khi sử dụng vũ lực. Nếu như trường hợp người đang thi hành công vụ thực hiện việc bắt giữ người phạm tội thì mức độ cần thiết khi sử dụng vũ lực đã được pháp luật quy định (các trường hợp được sử dụng vũ khí quân dụng, vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ… quy định trong Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017); người đang thi hành công vụ mà sử dụng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt giữ ngoài các trường hợp được quy định là rõ ràng vượt quá mức cần thiết và phải chịu trách nhiệm về thiệt hại xảy ra. Đối với trường hợp những người khác tham gia bắt giữ người phạm tội, có lẽ rất khó và không thể đưa ra được một giới hạn cụ thể mang tính định lượng cho trường hợp này mà cần phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau để xác định được chính xác, khách quan như: thời gian, địa điểm; công cụ, phương tiện người bắt giữ sử dụng; sự nhận thức của người bắt giữ; nhân thân của đối tượng bị bắt giữ; mức độ chống trả của người bị bắt giữ…
        Chúng tôi thiết nghĩ, khi có vụ việc xảy ra trong thực tế, trong quá trình đánh giá mức độ cần thiết khi sử dụng vũ lực của những người tham gia bắt giữ, nếu như còn có quan điểm khác nhau, nghĩa là chưa khẳng định được “rõ ràng” có vượt quá mức cần thiết hay không, thì nên coi là sử dụng vũ lực cần thiết và loại trừ trách nhiệm hình sự cho người bắt giữ. Nhận thức này hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 24 BLHS năm 2015, đó là phải xác định “rõ ràng” vượt quá mức cần thiết thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự; đồng thời, đảm bảo xử lý theo hướng có lợi cho người gây thiệt hại nhưng vì lợi ích chung của xã hội, tránh trường hợp truy cứu trách nhiệm một cách máy móc, không cần thiết, từ đó làm giảm hiệu quả mục đích của quy định này là nhằm động viên, khuyến khích người dân tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn các đối tượng phạm tội bỏ trốn.
        Trên đây là một số quan điểm về điều kiện loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp “gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội”. Đây là một nội dung mới được pháp điển hóa của BLHS năm 2015 nên sẽ còn nhiều vấn đề cần phải được trao đổi. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc để có sự thống nhất trong nhận thức về vấn đề này.
 

[1] Phạm Thị Hồng Đào, “Một số trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự 2015 và kiến nghị”, xem 26/09/2016, http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2032

Tác giả bài viết: Hồ Thanh Giang – Trường Đại học CSND