Rss Feed
Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh
Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật
Bông Hồng Xanh
tap chi

Thống kê

  • Đang truy cập: 24
  • Khách viếng thăm: 23
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 3788
  • Tháng hiện tại: 142946
  • Tổng lượt truy cập: 3357981

Tìm hiểu một số vấn đề về nội luật hóa điều ước quốc tế trong Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Đăng lúc: Thứ sáu - 04/05/2018 02:53 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
        Cho đến nay, Việt Nam đang là thành viên của một số điều ước quốc tế, điển hình như: Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC), Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (UBTOC) và Nghị định thư kèm theo (như Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp, trừng trị tội buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ, trẻ em), Bộ 40 khuyến nghị về rửa tiền của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF), Công ước Luật biển quốc tế 1982 (UNCLOS 1982), Công ước ASEAN về chống khủng bố... Qua nghiên cứu, nhận thấy rằng một số quy định của các điều ước quốc tế nêu trên đã được nội luật hóa trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015, cụ thể như sau:
          - Thứ nhất, BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định về chuẩn bị phạm tội theo hướng bên cạnh các hành vi chuẩn bị phạm tội đã được quy định trước đây (như tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm), còn bổ sung thêm hành vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm để thực hiện một tội phạm cụ thể (Điều 14). Quy định này tạo cơ sở pháp lý để chủ động ngăn chặn sớm tội phạm xảy ra, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, đồng thời phù hợp với Công ước chống tội phạm xuyên quốc gia.
          Bên cạnh đó, lần đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Đây là một nội dung mới, quan trọng, làm thay đổi cơ bản chính sách hình sự truyền thống, bên cạnh nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, luật hình sự Việt Nam đã đặt ra trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong một số tội theo quy định của Bộ luật (gồm 31 tội danh, trong đó, 22 tội thuộc Chương XVIII. Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và 09 tội thuộc Chương XIX. Các tội phạm về môi trường). Với quy định này của BLHS 2015, chúng ta đã nội luật hóa các quy định có liên quan của Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Công ước ASEAN về chống khủng bố và các Công ước về chống khủng bố khác mà Việt Nam đã tham gia, đồng thời đảm bảo phù hợp với xu hướng lập pháp tiến bộ mà nhiều quốc gia trên thế giới đang theo đuổi1.
          - Thứ hai, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung cơ bản cấu thành của tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi (các điều 150,151) trên tinh thần Nghị định thư về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (Bổ sung Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia của Liên hợp quốc) và Tuyên bố Asean về chống buôn bán người, đặc biệt phụ nữ và trẻ em.
          So với Điều 119 và Điều 120 BLHS năm 1999, Điều 150 và Điều 151 BLHS năm 2015 được sửa đổi quy định cụ thể hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm. Cụ thể là: Hành vi phạm tội mua bán người theo Điều 150 BLHS năm 2015: chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi tại hai điểm trên. Hành vi phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi theo Điều 151 BLHS năm 2015 là: chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo; chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi tại hai điểm nêu trên.
          Đây là kết quả nội luật hóa các hành vi theo quy định của Nghị định thư, là bước tiến quan trọng đáp ứng được yêu cầu của Nghị định thư, tạo cơ sở pháp lý tốt hơn phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người và hợp tác quốc tế của các cơ quan chức năng Việt Nam trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, khi đối chiếu với quy định tại Khoản d Điều 3 của Nghị định thư thì có thể thấy BLHS năm 2015 chỉ nội luật hóa quy định về hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm mà không nội luật hóa quan điểm pháp lý về độ tuổi của người được coi là trẻ em. Theo Nghị định thư, trẻ em là người dưới 18 tuổi, còn quan điểm pháp lý của Việt Nam đến nay vẫn xác định trẻ em là người dưới 16 tuổi2. Mặc dù là quốc gia đầu tiên của châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền trẻ em (CRC) nhưng đến nay, Việt Nam lại là nước còn lại duy nhất trong khối ASEAN, thứ 4 ở châu Á và thứ 11 trên thế giới chưa nâng độ tuổi pháp lý của trẻ em lên dưới 18 tuổi. Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ quan điểm pháp lý của Nhà nước và truyền thống văn hóa của nhân dân ta.
          - Thứ ba, BLHS 2015 bổ sung tội bắt cóc con tin (Điều 301) và tội cướp biển (Điều 302) trên tinh thần các quy định của Công ước chống bắt cóc con tin năm 1979 và Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982.
          Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin (1979) vào năm 20143. Chính vì thế, nội luật hóa các quy định của Công ước này trong pháp luật nước ta được xác định là một yêu cầu cần được các cơ quan lập pháp quan tâm, chú trọng. Trong BLHS 2015, bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung 02 tội danh trực tiếp quy định về hành vi khủng bố (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân và Tội khủng bố), Bộ luật còn tội phạm hóa một số hành vi khác mà pháp luật quốc tế xem là tội phạm khủng bố, trong đó có hành vi bắt cóc con tin (“Taking of hostages” hay “Hostages taking”). Như vậy, việc tội phạm hóa hành vi bắt cóc con tin vào BLHS 2015 đã góp phần nội luật hóa yêu cầu của Công ước 1979 về chống bắt cóc con tin.
          Trong BLHS 2015, ngoài quy định tại Điều 301 về tội bắt cóc con tin, còn quy định tội cướp biển tại Điều 302. Quy định này không những khẳng định chính sách hình sự nhất quán của Nhà nước ta trong việc xử lý nghiêm minh hành vi cướp biển, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, mà còn nhằm thực thi cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế về phòng, chống tội phạm trên biển mà Việt Nam là thành viên, như Công ước về an toàn sinh mạng người trên biển năm 1974.
          - Thứ tư, bổ sung tội cưỡng bức lao động (Điều 297) trên tinh thần Công ước số 29 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về lao động cưỡng bức (năm 1930).
          Định nghĩa lao động cưỡng bức trong công ước của ILO là hoàn cảnh người lao động bị ép buộc hay lừa gạt làm những việc mà họ không thể rời bỏ những việc làm đó. Tổ chức Lao động Quốc tế đã đưa ra 11 chỉ số để nhận diện lao động cưỡng bức: lạm dụng tình trạng khó khăn của người lao động, lừa gạt, hạn chế đi lại, bị cô lập, bạo lực thân thể và tình dục, dọa nạt và đe dọa, giữ giấy tờ tùy thân, giữ tiền lương, lệ thuộc vì nợ, điều kiện sống và làm việc bị lạm dụng, làm thêm giờ quá quy định.
          Ở Việt Nam, hành vi lao động cưỡng bức cũng đã được nghiêm cấm trong các quy định pháp luật. Bộ Luật Lao động quy định “cưỡng bức lao động là việc dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm buộc người khác lao động trái với ý muốn của họ” và là hành vi bị nghiêm cấm. Tuy nhiên, để bảo vệ người lao động tốt hơn, hướng tới bảo vệ quyền con người bằng những chế tài có tính răn đe và trừng phạt nghiêm khắc hơn, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017) đã bổ sung những điều khoản về hành vi cưỡng bức lao động tại Điều 297. Đây cũng là một minh chứng cho là hành vi nội luật hóa các quy định có liên quan của Công ước về lao động cưỡng bức năm 1930 mà Việt Nam là một thành viên.
          - Thứ năm, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung tội rửa tiền (Điều 324) nhằm đáp ứng đầy đủ yêu cầu của các khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF) về phòng, chống rửa tiền mà nước ta phải tuân thủ với tư cách là thành viên.
          Theo Bộ 40 khuyến nghị lực lượng đặc nhiệm tài chính về phòng chống rửa tiền (quy định về hình sự hóa): “Các quốc gia cần hình sự hoá tội rửa tiền trên cơ sở Công ước Liên Hợp Quốc 1988 chống lại việc buôn bán, vận chuyển bất hợp pháp các chất ma tuý và chất hướng thần (Công ước Viên) và Công ước Liên Hợp Quốc năm 2000 về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước Palermo);
          Các quốc gia cần áp dụng tội phạm rửa tiền vào tất cả các tội nghiêm trọng với mục đích tập hợp thành một phạm vi rộng nhất các tội phạm nguồn của tội rửa tiền. Các tội phạm nguồn này có thể mô tả bằng cách dẫn chiếu tới tất cả các tội danh, hay tới một ngưỡng có gắn liền với hoặc là một danh mục các tội danh nghiêm trọng hoặc tới hình phạt tù áp dụng với tội phạm nguồn đó (cách tiếp cận theo ngưỡng), hoặc theo danh sách các tội phạm nguồn, hoặc là kết hợp cả hai cách tiếp cận này”.
          Khi đối chiếu với quy định của Công ước Liên Hợp Quốc năm 2000 về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, quy định về tội phạm rửa tiền tại Điều 251, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại Điều 252 cũng có thể được áp dụng để trừng trị một số hành vi rửa tiền đã cơ bản đảm bảo tương thích với quy định của Công ước. Tuy nhiên, để chính xác hóa hơn nữa dấu hiệu nhận thức (người phạm tội biết rõ nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản) trong mặt chủ quan của tội phạm nhằm đảm bảo hành vi rửa tiền dù được người phạm tội thực hiện để hợp pháp hóa tiền và tài sản do mình phạm tội mà có hay do người khác phạm tội mà có đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự, BLHS 2015 đã được sửa đổi, bổ sung quy định xử lý cả hành vi rửa tiền để hợp pháp hóa tiền và tài sản do chính người phạm tội mà có (khoản 1 Điều 324).
          - Thứ sáu, để nội luật hóa các qui định có liên quan của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) mà nước ta là thành viên, đáp ứng yêu cầu hội nhập, tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời, bảo đảm xử lý tội phạm trong thực tiễn, BLHS năm 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung so với BLHS năm 1999 (cụ thể là Chương XXIII). Quy định các tội phạm về chức vụ theo hướng: mở rộng khái niệm tội phạm về chức vụ bao gồm cả trong khi thi hành công vụ và nhiệm vụ (Điều 352), để bảo đảm xử lý tội phạm về chức vụ xảy ra trong khu vực tư (ngoài Nhà nước). Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà có hành vi tham ô tài sản, nhận hối lộ (các điều 353, 354); Người nào đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước (Điều 364); Người nào môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước (Điều 365)… cũng sẽ bị xử lý theo các tội danh tương ứng quy định tại Chương này; đặc biệt, bổ sung quy định mới về của đưa, nhận, môi giới hối lội bao gồm cả những lợi ích phi vật chất tại các điều luật nêu trên. Liên quan các tội tham ô, nhận hối lộ, nếu thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (các khoản 3, 4 của các điều 364, 365) sẽ không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 28).
          Hiện nay, tham nhũng không còn là vấn đề riêng của mỗi quốc gia nào mà trở thành vấn đề có tính toàn cầu. Tham nhũng đã và đang làm hao tổn nguồn lực quốc gia, làm xói mòn, giảm sút lòng tin của người dân đối với nhà nước qua đó phá hoại sự phát triển ổn định và bền vững của mỗi quốc gia. Lo ngại về tính nghiêm trọng của tham nhũng đối với sự ổn định, an ninh xã hội ở nước ta, sự bền vững và phát triển của các giá trị dân chủ, đạo đức, công lý của xã hội cũng như mối đe dọa về sự liên kết giữa tham nhũng với các loại tội phạm khác, đặc biệt là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Mặc dù rằng, việc thực hiện Công ước ở Việt Nam có thể gặp một số khó khăn, vướng mắc nhất định như: Các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với các nước còn thiếu cụ thể, chưa đồng bộ, điều kiện vật chất, kỹ thuật và kinh nghiệm hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam còn hạn chế, nhận thức và việc thực thi Công ước trong cán bộ, công chức và trong nhân dân nhìn chung còn bất cập do công tác nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến về Công ước thời gian qua còn hạn chế nhưng việc Nhà nước bổ sung những quy định nêu trên trong BLHS 2015 là vô cùng cấp thiết, là một bước tiến quan trọng để khắc phục những khó khăn, vướng mắc vừa nêu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng.
          - Thứ bảy, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; tội dùng nhục hình và tội bức cung (các Điều 157, 373, 374) trên tinh thần Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục mà nước ta là thành viên4.
          Công ước gồm 4 nội dung cơ bản: (1) chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; (2) điều tra các cáo buộc và nghi ngờ tra tấn; (3) chống việc không chịu hình phạt bằng cách lên án tra tấn và đưa kẻ phạm tội ra pháp luật; (4) trao nạn nhân bị tra tấn quyền chữa trị hiệu quả và phục hồi đầy đủ. Trên cơ sở quy định của Công ước, BLHS 2015 tiếp tục kế thừa các quy định của BLHS 1999 (các Điều 123, 298, 299) đồng thời tiếp tục khẳng định hình sự hóa các hành vi tra tấn theo tinh thần của Công ước, tuy nhiên đã nâng mức hình phạt so với quy định trước đó nhằm xử lý nghiêm khắc hơn các hành vi phạm tội này, qua đó nâng cao hiệu quả phòng, chống các hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, quyền con người. Cụ thể:
          Khoản 1 Điều 123 BLHS 1999 (Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật) thì hình phạt áp dụng đối với người phạm tội là phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm; còn tại Khoản 1 Điều 157 BLHS 2015 thì hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
          Bên cạnh đó, quy định tại Điều 373 BLHS 2015 còn mở rộng phạm vi các trường hợp mà người phạm tội phải chịu hình phạt do thực hiện tội phạm dùng nhục hình so với quy định tại Điều 298 BLHS 1999. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 298 BLHS 1999 thì hình phạt được áp dụng đối với “Người nào dùng nhục hình trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án…” trong khi đó Khoản 1 Điều 373 BLHS 2015 thì hình phạt được áp dụng đối với “Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác”.
          Như vậy, qua nghiên cứu BLHS 2015, có thể thấy rằng đây là một đạo luật có nhiều quy định mới so với trước đây, trong đó với việc nội luật hóa nhiều điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên, điều đó thể hiện:
          Một là, tinh thần trách nhiệm của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế mà nước ta là thành viên trên cơ sở nguyên tắc “các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác” và nguyên tắc “tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế” trong pháp luật quốc tế.
          Hai là, sự tiếp cận của pháp luật hình sự nước ta với pháp luật hình sự của các quốc gia tiến bộ trên thế giới qua đó tạo điều kiện cho việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế song phương và đa phương giữa Việt Nam với các quốc gia khác trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự và dẫn độ tội phạm, góp phần đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm mà cộng đồng quốc tế cùng có sự quan tâm.
          Tuy nhiên, để phát huy tối đa hiệu lực trong đấu tranh phòng, chống tội phạm thì việc nội luật hóa các quy định có liên quan trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam vào pháp luật hình sự nước ta cần được tiếp tục nghiên cứu tiến hành, đồng thời các cơ quan chức năng như Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và một số cơ quan khác cần nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS 2015, Luật sửa đổi bổ sung một số điều BLHS 2015 cũng như triển khai áp dụng trong thực tiễn. Ngoài các quy định được đề cập nêu trên, trong BLHS 2015 còn có một số quy định khác được xây dựng trên tinh thần nội luật hóa các điều ước quốc tế mà trong phạm vi bài viết này chưa đề cập cụ thể.
Tác giả bài viết: Nguyễn Đức Hưng
Nguồn tin: Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 99.
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (28/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (13/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)

Số: Chỉ thị số 14-CT/TW
Tên: (Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng)

Ngày BH: (18/07/2017)

Số: 1884/QyĐ-T48
Tên: (Quy định về văn hóa ứng xử của cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Trường Đại học CSND)

Ngày BH: (12/10/2017)

Số: 27/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân)

Ngày BH: (21/08/2017)

Số: 124/2015/NĐ-CP
Tên: (NGHỊ ĐỊNH SỐ 185/2013/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2013)

Ngày BH: (14/11/2013)