Rss Feed
CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM (19/8/1945 - 19/8/2020), 15 NĂM NGÀY HỘI TOÀN DÂN BẢO VỆ AN NINH TỔ QUỐC (19/8/2005 - 19/8/2020)

Những điểm mới vể chế độ đặc xá được quy định trong Luật đặc xá năm 2018

Đăng lúc: Chủ nhật - 23/02/2020 19:58 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
Luật Đặc xá năm 2018 đã cụ thể hoá quy định, thẩm quyền đặc xá của Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 2013; nhằm đảm bảo tính thống nhất với các đạo luật khác có liên quan, nhất là pháp luật trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự. Vì vậy, việc nghiên cứu những điểm mới cơ bản trong Luật Đặc xá năm 2018 có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động nghiên cứu và thực tiễn công tác.
        Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước đối với người phạm tội bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm án xuống tù có thời hạn, đồng thời khuyến khích họ tích cực lao động, học tập cải tạo để được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước, trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong thời gian từ năm 2009 đến năm 2016, Chủ tịch nước đã 07 lần quyết định về đặc xá nhân các ngày lễ lớn, sự kiện trọng đại của đất nước, đã đặc xá cho 85.897 phạm nhân và 1.123 người đang được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Các đối tượng được đặc xá đã thực hiện xong nghĩa vụ dân sự với số tiền là hơn 3.184 tỷ đồng, trong đó thu nộp ngân sách nhà nước gần 1.438 tỷ đồng; số người có việc làm và thu nhập ổn định gần 50.000 người, chiếm tỷ lệ 57%; tỷ lệ tái phạm tội trong số người được đặc xá là 1.007 người, chiếm tỷ lệ 1,16%[1].
        Tuy nhiên, tổng kết 10 năm thi hành Luật Đặc xá năm 2007 cho thấy nhiều quy định của Luật hiện không còn phù hợp, cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới. Để cụ thể’ hoá quy định thẩm quyền đặc xá của Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 2013, trên cơ sở kế thừa những kinh nghiệm về công tác đặc xá theo quy định của Luật Đặc xá năm 2007; khắc phục những tồn tại, bất cập sau hơn 10 năm thi hành Luật Đặc xá năm 2007, đồng thời nhằm đảm bảo tính hợp hiến, tính thống nhất với các đạo luật khác có liên quan nhất là pháp luật trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự.
        Ngày 19/11/2018, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XIV đã thông qua Luật Đặc xá năm 2018, có hiệu lực từ ngày 01/7/2019. Luật Đặc xá năm 2018 bao gồm 6 chương, 39 điều quy định về nguyên tắc, thời điểm, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện đặc xá; điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người được đề nghị đặc xá; quyền và nghĩa vụ của người được đặc xá. So với Luật Đặc xá năm 2007 đã tăng 03 điều (trong đó bỏ 02 điều, bổ sung 05 điều), sửa đổi, bổ sung 34 điều với bố cục và nội dung cơ bản. Nghiên cứu toàn văn của Luật Đặc xá năm 2018 cho thấy có một số điểm mới, sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:
        1. Trình tự, thủ tục trình Chủ tịch nước ban hành Quyết định về đặc xá và trách nhiệm của các Bộ ngành có liên quan
        Tổng kết thi hành Luật Đặc xá năm 2007 từ năm 2009 đến năm 2017 cho thấy, thời gian từ khi Chủ tịch nước ban hành Quyết định về đặc xá cho đến thời điểm đặc xá là rất ngắn, trung bình là 50 ngày, có những đợt dưới 40 ngày như đợt đặc xá năm 2011 chỉ có 37 ngày. Trong thời gian ngắn với số lượng lớn công việc cần phải triển khai đã tạo ra áp lực cho các cơ quan cũng như cán bộ trực tiếp thực hiện. Chính vì vậy, để khắc phục những khó khăn đó, tại Điều 8 Luật Đặc xá năm 2018 đã bổ sung quy định “Tờ trình và dự thảo Quyết định về đặc xá phải được trình lên Chủ tịch nước để xem xét, ban hành Quyết định về đặc xá chậm nhất là 60 ngày trước thời điểm đặc xá để Chủ tịch nước xem xét ban hành Quyết định về đặc xá”1 [2], trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 5 về đặc xá trong trường hợp đặc biệt. Đây là quy định cần thiết nhằm chủ động ngay từ công tác tham mưu xây dựng Tờ trình và dự thảo Quyết định về đặc xá để trình Chủ tịch nước xem xét. Thời gian 60 ngày là phù hợp với thực tiễn tổng kết 10 năm triển khai Luật Đặc xá năm 2007, đây là khoảng thời gian tối thiểu để các cơ quan, tổ chức và cá nhân chủ động thực hiện các công việc nhằm đảm bảo chất lượng, giảm tải áp lực về tiến độ thực hiện thời điểm đặc xá.
        Luật Đặc xá năm 2007 không quy định rõ trách nhiệm của Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại Giao. Khắc phục vấn đề này, Luật Đặc xá năm 2018 quy định chi tiết trong từng điều luật riêng để các cơ quan chủ động thực hiện nhiệm vụ của mình. Theo đó:
       - Điều 26 quy định Văn phòng Chủ tịch nước có trách nhiệm rà soát, kiểm tra danh sách, hồ sơ những người được Hội đồng tư vấn đặc xá hoặc Chính phủ đề nghị, trình Chủ tịch nước quyết định; Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức công bố Quyết định đặc xá.
       - Điều 31 quy định trách nhiệm của Bộ Tư pháp là đơn vị chỉ đạo cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh... trong việc: Cung cấp thông tin, giấy tờ có liên quan đến nghĩa vụ thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự của người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá;.
       - Điều 32 quy định Bộ Ngoại giao đề xuất Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định đặc xá cho người được đặc xá trong trường hợp đặc biệt là người nước ngoài;.
        2. Về diện đối tượng được đề nghị đặc xá và quyền của người đang chấp hành án phạt tù
        Theo quy định tại Điều 11 của Luật Đặc xá năm 2018 thì đối tượng được đề nghị đặc xá nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước gồm người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án phạt tù chung thân nhưng đã được giam xuống tù có thời hạn, người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.
        Như vậy, so với Luật Đặc xá năm 2007 thì đối tượng được đề nghị đặc xá đã mở rộng thêm diện đối tượng là người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Việc bổ sung đối tượng này là phù hợp với thực tiễn và thống nhất với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, bởi theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù là người đang chấp hành án nhưng vì các lý do như sức khoẻ, mang thai, nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. nên được tạm đình chỉ chấp hành án. Do vậy, nếu người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện về thời gian và các điều kiện khác theo quy định của Luật thì họ có thể được đề nghị đặc xá.
        Ngoài ra, khoản 1 Điều 15 Luật Đặc xá năm 2018 quy định: “Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Quyết định về đặc xá được niêm yết, phổ biến người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn căn cứ Điều 11, Điều 12 Luật Đặc xá năm 2018 làm đơn đề nghị đặc xá”[3]. Đây là quy định mới được ban hành tại Luật Đặc xá năm 2018, bởi Luật
        Đặc xá năm 2007 không cho phép người đang chấp hành án phạt tù có quyền này. Theo Luật Đặc xá cũ, chỉ giám thị trại giam, giám thị trại tạm giam mới được đề nghị đặc xá.
        3. Về điều kiện chấp hành hình phạt bổ sung, án phí, thực hiện nghĩa vụ bồi thường và các nghĩa vụ dân sự khác
        Kế thừa quy định của Luật Đặc xác năm 2007 về bắt buộc thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng hoặc các tội phạm khác do Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá. Tuy nhiên, Luật Đặc xá năm 2018 đã bổ sung quy định đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm khác đã thi hành xong hoặc thi hành được một phần nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc các trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại theo quy định của pháp luật (mà không phải do họ cố tình chây ì, không tự nguyện chấp hành án) vẫn thuộc diện được đề nghị được đặc xá. Quy định này nhằm đảm bảo công bằng xã hội và thể hiện ý nghĩa của chính sách đặc xá, tạo động lực của những người bị kết án là người nghèo phấn đấu cải tạo tốt.
        Tuy nhiên, Luật Đặc xá năm 2018 bổ 3 sung quy định chủ thể có thẩm quyền quyết định việc thoả thuận thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác, cụ thể là trường hợp phải thi hành nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với tài sản không thuộc sở hữu của Nhà nước thì phải được người được thi hành án đồng ý hoãn thi hành án hoặc không yêu cầu thi hành án đối với tài sản này thì người bị kết án phạt tù sẽ được đề nghị xét đặc xá. Trường hợp phải thi hành nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước thì không đặt vấn đề thoả thuận hoặc không yêu cầu thi hành án.
        4. Về các trường hợp không đề nghị đặc xá
        Kế thừa quy định tại Luật Đặc xá năm 2007, Điều 12 Luật Đặc xá năm 2018 quy định các trường hợp không được đề nghị đặc xá theo hướng nêu những trường hợp điển hình, bổ sung quy định không được đề nghị đặc xá đối với các trường hợp: “Bị kết án tù về tội phản bội Tổ quốc; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; tội gián điệp; tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội bạo loạn; tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội phá rối an ninh; tội chống phá cơ sở giam giữ; tội khủng bố hoặc một trong các tội quy định tại chương các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh của Bộ luật Hình sự”[4].
        5. Về thực hiện đặc xá đối với phạm nhân là người dưới 18 tuổi
        Luật Đặc xá năm 2018 đã bổ sung quy định riêng (khoản 4 Điều 11) về điều kiện được Chủ tịch nước quyết định thời gian đã chấp hành án phạt tù ngắn hơn so với thời gian quy định tại các điểm b khoản 1 Điều 11 đối với người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù hoặc người dưới 18 tuổi đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Theo khoản 4 Điều 11 Luật Đặc xá năm 2018 thì người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù khi có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự và không thuộc một trong các trường hợp không được đề nghị đặc xá của Luật Đặc xá năm 2018 quy định tại Điều 12 hoặc người dưới 18 tuổi đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù khi có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự trong thời gian chấp hành án phạt tù trước khi được tạm đình chỉ và không thuộc một trong các trường hợp không được đề nghị đặc xá của Luật Đặc xá năm 2018.
        Đây là quy định nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thực hiện chính sách nhân đạo đặc biệt của Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi đang chấp hành án cũng như thống nhất quy định về người dưới 18 tuổi trong các đạo luật khác mới được Quốc hội thông qua.
        -------------------
        Tài liệu tham khảo
        [1]  Bộ Công an, Quyết định số 1085/ QĐ-BCA ngày 20/01/2019 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Đặc xá năm 2018 trong Công an nhân dân.
        2. Chính phủ, Quyết định số' 155/QĐ- TTg ngày 01/02/2019 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Đặc xá năm 2018.
        3. Luật Đặc xá năm 2007.
        4. Luật Đặc xá năm 2018.

 

[1]  Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật Đặc xá năm 2007 của Bộ Công an.
[2] Điều 8 Luật Đặc xá năm 2018.
[3] Khoản 1 Điều 15 Luật Đặc xá năm 2018.
[4] Khoản 1 Điều 12 Luật Đặc xá năm 2018.

Tác giả bài viết: Ngô Đức Việt - Nguyễn Văn Trung
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 118
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc