Rss Feed
Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh
Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật
Bông Hồng Xanh
tap chi

Thống kê

  • Đang truy cập: 30
  • Khách viếng thăm: 29
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 2685
  • Tháng hiện tại: 141843
  • Tổng lượt truy cập: 3356878

Điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về các tội xâm phạm sở hữu

Đăng lúc: Thứ năm - 26/04/2018 21:37 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
        Trên cơ sở phân tích, đánh giá toàn diện bối cảnh mới và yêu cầu tiếp tục sửa đổi cơ bản, toàn diện BLHS năm 1999, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, nhằm thể chế hóa quan điểm mới về chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong tình hình hiện nay, thực hiện chủ trương cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng và các Nghị quyết của Bộ Chính trị như: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Đặc biệt, với sự phát triển, bổ sung và đề cao quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 2013 đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành để làm cho các quyền này của người dân được thực hiện trên thực tế. Đồng thời, xu thế chủ động hội nhập quốc tế đã trở thành nhu cầu nội tại của Việt Nam. Trên thực tế, Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực và đã trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế đa phương, song phương. Một trong những định hướng quan trọng khi sửa đổi BLHS chính là hoàn thiện chính sách hình sự theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; tôn trọng và bảo đảm thực thi đầy đủ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Đây là định hướng cơ bản thể hiện rõ chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong việc xử lý người phạm tội1. Trên tinh thần quan điểm đó, sau một thời gian chuẩn bị dự thảo BLHS, thẩm tra dự án BLHS, lấy ý kiến nhân dân, các ban ngành, đoàn thể, các Đại biểu Quốc hội về dự thảo BLHS năm 2015 (sửa đổi), ngày 20/6/2017 tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV đã chính thông qua Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung của BLHS số 100/2015/QH13 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đặc biệt, liên quan đến các quy định về các tội xâm phạm sở hữu có một số thay đổi cơ bản về vị trí của chương (trước đây quy định tại chương XIV của BLHS năm 1999, hiện nay quy định tại chương XVI của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với 13 tội danh (từ điều 168 đến 180), kỹ thuật lập pháp, tội phạm hóa một số trường hợp phạm tội xâm phạm sở hữu bằng cách bổ sung thêm dấu hiệu định tội của các tội phạm theo pháp luật hiện hành, phi tội phạm hóa một số hành vi phạm tội cụ thể, bổ sung và thay đổi một số dấu hiệu định khung, sửa đổi quy định về hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu2. Cụ thể như sau:
        Thứ nhất, thu hẹp phạm vi xử lý về hình sự đối với người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
        Chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước trong việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải thể hiện tính khoan hồng và nhân đạo sâu sắc, với ý nghĩa đó, việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Xuất phát từ quan điểm, mục tiêu nêu trên tại Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. 2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”.
        Như vậy, trong tương quan so sánh với BLHS năm 1999 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã thu hẹp đáng kể phạm vi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Theo đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều thuộc Chương XVI3.
        Thứ hai, thu hẹp phạm vi xử lý về hình sự đối với hầu hết các tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp chuẩn bị phạm tội
        Điều 14 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
        “1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.
        2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
        3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự”.
        Từ những quy định trên ta thấy, thay vì người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện, bất kể tội phạm đó là tội phạm gì thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu, thì BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định theo hướng đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội xâm phạm sở hữu, người chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi chuẩn bị phạm tội cướp tài sản (Điều 168) hoặc chuẩn bị phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169). Đặc biệt, đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội cướp tải sản (Điều 168) mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
        Về hình phạt áp dụng đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội cướp tài sản (Điều 168) và chuẩn bị phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169) trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có mức độ giảm nhẹ hơn so với trường hợp chuẩn bị phạm các tội này trong BLHS năm 1999. Cụ thể: Người chuẩn bị phạm tội cướp tài sản (khoản 5 Điều 168) và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (khoản 5 Điều 169) thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, nếu so sánh với quy định tại khoản 2 Điều 52 BLHS năm 1999 thì mức hình phạt áp dụng đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội cướp tài sản là từ 1 năm 6 tháng đến 20 năm và chuẩn bị phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là từ 1 năm đến 20 năm. Như vậy, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định theo hướng xử lý khoan hồng hơn đối với các trường hợp chuẩn bị phạm tội xâm phạm sở hữu.
        Thứ ba, bổ sung thêm một số dấu hiệu định tội, mở rộng phạm vi xác định tài sản là đối tượng tác động của tội phạm xâm phạm sở hữu
        Bổ sung thêm dấu hiệu định tội “Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ”, trong trường hợp tài sản bị xâm phạm dưới mức định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm có cấu thành vật chất gồm: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172); Tội trộm cắp tài sản (Điều 173); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174); Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175); Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178) và dấu hiệu định tội “Tài sản là di vật, cổ vật”, trong trường hợp tài sản bị xâm phạm dưới mức định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm có cấu thành vật chất gồm: Tội trộm cắp tài sản (Điều 173); Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176); Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177); Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178). Có thể khẳng định, việc bổ sung các dấu hiệu định tội nêu trên hoàn toàn phù hợp với bản chất của hành vi phạm tội, nhất là khi đối tượng tác động của tội phạm là các loại tài sản có giá trị đặc biệt về mặt vật chất, là phương tiện kiếm sống chính của bản thân người bị hại và gia đình họ hoặc là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học hay là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên4.
        Mở rộng đối tượng tác động của tội phạm là tài sản của “Nhà nước” thành tài sản của “Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp” tại Điều 179, điều này đồng nghĩa với việc nhà làm luật đã mở rộng phạm vi xử lý hình sự gắn với mọi thành phần kinh tế chứ không phải chỉ kinh tế Nhà nước. Quy định này nhằm cụ thể hóa tinh thần bảo hộ quyền bình đẳng giữa các thành phần kinh tế của Đảng và Nhà nước cũng như quy định tại Điều 51 của Hiến pháp năm 20135. Việc quy định mở rộng phạm vi xử lý hình sự của Điều 179 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tất yếu dẫn đến chủ thể của tội phạm này cũng thay đổi, cụ thể: chủ thể của tội phạm này ngoài hai dấu hiệu có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, người phạm tội còn phải thêm dấu hiệu có trách nhiệm trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
        Ngoài ra, bổ sung thêm dấu hiệu định tội “Hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả” trong cấu thành tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175). Thực tế quy định này chính là việc mở rộng phạm vi xử lý hình sự (tội phạm hóa) đối với hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Việc bổ sung dấu hiệu định tội nêu trên trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xuất phát từ thực tế có nhiều trường hợp trên thực tế người vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng nhưng đến thời hạn trả lại tài sản thì cam kết nhận nợ, cố tình không trả lại tài sản. Đối với trường hợp này theo quy định của BLHS năm 1999 thì không bị coi là tội phạm mà chỉ là quan hệ pháp luật dân sự. Tuy nhiên, khi quy định như vậy, vấn đề đặt ra cần phải làm rõ ranh giới giữa tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật dân sự.
        Thứ tư, nâng mức định lượng về giá trị tài sản làm cơ sở để xử lý hình sự trong một số trường hợp phạm tội xâm phạm sở hữu
        BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã nâng mức định lượng tài sản bị xâm phạm tối thiểu là dấu hiệu định tội của một số tội gồm: Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177); Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179); Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180) từ 50 triệu đồng lên 100 triệu đồng. Bằng cách nâng mức định lượng về giá trị tài sản bị xâm phạm tối thiểu là dấu hiệu định tội đối với một số tội nêu trên, nhà làm luật đã phi tội phạm hóa một số trường hợp xâm phạm sở hữu của các tội đó. Chúng tôi cho rằng, việc nâng giá trị tài sản tối thiểu là dấu hiệu định tội của các tội nêu trên là hợp lý, phù hợp với sự biến động của giá cả và tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi trong tình hình hiện nay.
        Thứ năm, sửa đổi, bổ sung một số dấu hiệu định khung tăng nặng
        Quán triệt quan điểm sửa đổi BLHS 1999 theo hướng hạn chế tối đa các dấu hiệu, yếu tố mang tính định tính có thể dẫn đến những khó khăn nhất định cho việc nhận thức và áp dụng thống nhất pháp luật hình sự trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã thay dấu hiệu định khung: “Gây hậu quả nghiêm trọng”, “Gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, ở tất cả các tội thành các dấu hiệu định lượng cụ thể.
        BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung dấu hiệu định khung: “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ” tại Khoản 2 Điều 168 (Tội cướp tài sản), Điều 170 (Tội cưỡng đoạt tài sản), Điều 171 (Tội cướp giật tài sản); “Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh”, “Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp” tại Khoản 3 và 4 các Điều 168 (Tội cướp tài sản), Điều 170 (Tội cưỡng đoạt tài sản), Điều 171 (Tội cướp giật tài sản), Điều 172 (Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản), Điều 173 (Tội trộm cắp tài sản), Điều 174 (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); “Tài sản là bảo vật quốc gia” tại Khoản 2 Điều 173 (Tội trộm cắp tài sản), Điều 177 (Tội sử dụng trái phép tài sản), Điều 178 (Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); “Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ…” tại Điều 169 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); “Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội” tại Điều Điều 175, Điều 178.
        BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sửa đổi tình tiết định khung tăng nặng “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ…” thành “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ…” tại Điều 168 (Tội cướp tài sản), Điều 169 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), Điều 171 (Tội cướp giật tài sản). Việc sửa đổi này nhằm đảm bảo tính đồng bộ giữa quy định của BLHS và các văn bản pháp luật chuyên ngành6.
        Thứ sáu, mở rộng việc áp dụng hình phạt không tước tự do, giảm mức hình phạt cao nhất của một số tội bằng cách bỏ hình phạt tử hình, tù chung thân
        Quy định hình phạt tiền là hình phạt chính đối với một số tội phạm nhằm thể chế hóa tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo hướng: “Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm. Khắc phục tình trạng hình sự hóa quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự và bỏ lọt tội phạm…”. Việc áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với một số tội phạm xâm phạm sở hữu vừa đáp ứng mục tiêu cải cách tư pháp về giảm việc áp dụng hình phạt tù, nhưng vẫn đảm bảo được tính răn đe, tính nghiêm minh của pháp luật. Quy định hình phạt tiền là hình phạt chính trong các tội xâm phạm sở hữu tạo điều kiện để Tòa án có thể dễ dàng lựa chọn các hình phạt khác nhau trong đó có hình phạt tiền để cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội xâm phạm sở hữu nhưng vẫn đảm bảo mục đích của hình phạt. Bởi lẽ, trong thực tế nhiều trường hợp người phạm tội xâm phạm sở hữu như trộm cắp tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản... họ hoàn toàn có khả năng thực hiện hình phạt tiền là hình phạt chính. Bên cạnh đó, mục tiêu của những người phạm tội xâm phạm sở hữu chủ yếu là chiếm đoạt tài sản thì việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với họ sẽ đảm bảo tính răn đe, giáo dục của hình phạt, hơn nữa mục đích của hình phạt vẫn đạt được.
        BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có một số khung hình phạt chỉ quy định các hình phạt không tước tự do của người phạm tội. Chẳng hạn, các Khoản 1 Điều 179 (Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp), Khoản 1 Điều 180 (Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản) - BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đều không quy định hình phạt tù có thời hạn mà chỉ quy định chế tài lựa chọn với các hình phạt chính không tước quyền tự do. Với quy định nêu trên, chúng tôi cho rằng nhà làm luật mong muốn hạn chế đến mức thấp nhất việc áp dụng hình phạt tù trên thực tế.
        BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã giảm mức hình phạt cao nhất của một số tội bằng cách bỏ hình phạt tử hình, tù chung thân, giảm hình phạt. Cụ thể, bỏ hình phạt tử hình ở tội cướp tài sản (Điều 168); Bỏ hình phạt chung thân ở tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), tội trộm cắp tài sản (Điều 173); tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175); Giảm mức hình phạt cao nhất của tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản là tù có thời hạn từ 3 năm xuống còn 2 năm. Các quy định nêu trên thể hiện xu hướng xử lý khoan hồng của nhà nước đối với các tội xâm phạm sở hữu, qua quy định về giảm mức hình phạt cũng như các quy định khác đã nêu.
        Tóm lại, với việc tập trung rà soát, nghiên cứu sửa đổi, tiếp thu góp ý, chỉnh lý một cách toàn diện và đồng bộ với tinh thần khẩn trương, nghiêm túc và cầu thị, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã được ban hành với những điểm mới hết sức tiến bộ, văn minh, thể hiện trình độ lập pháp cao, đảm bảo được các giá trị cơ bản của hệ thống pháp luật hình sự trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như tính nhân đạo, công bằng, dân chủ, pháp chế. Đặc biệt, liên quan đến chương các tội xâm phạm sở hữu, thể chế hóa quan điểm, tinh thần sửa đổi BLHS, nhà làm luật đã hiện thực hóa hàm lượng tri thức có được từ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước, kết quả nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý, thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm bằng việc xây dựng hệ thống quy phạm tương đối hoàn chỉnh vừa thể hiện sự kế thừa các giá trị pháp lý sẵn có, vừa bổ sung, cập nhật các giá trị pháp lý trong bối cảnh mới, có tiếp thu kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia trên thế giới, phù hợp với Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Thiết nghĩ điều cốt lõi quan trọng trong thời điểm hiện nay là các cơ quan có thẩm quyền cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, hướng dẫn và giải thích để từng bước hiện thực hóa các quy định của BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) về các tội xâm phạm sở hữu vào thực tiễn góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
Tác giả bài viết: Lê Quang Thành
Nguồn tin: Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 99.
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (28/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (13/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)

Số: Chỉ thị số 14-CT/TW
Tên: (Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng)

Ngày BH: (18/07/2017)

Số: 1884/QyĐ-T48
Tên: (Quy định về văn hóa ứng xử của cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Trường Đại học CSND)

Ngày BH: (12/10/2017)

Số: 27/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân)

Ngày BH: (21/08/2017)

Số: 124/2015/NĐ-CP
Tên: (NGHỊ ĐỊNH SỐ 185/2013/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2013)

Ngày BH: (14/11/2013)