Rss Feed

Các tội phạm tham nhũng trong Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Đăng lúc: Thứ sáu - 22/06/2018 10:35 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
Nội dung bài viết trình bày về các tội phạm tham nhũng trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tập trung phân tích đánh giá yêu cầu và nội dung cụ thể về những điểm mới như khái niệm tội phạm chức vụ và các tội phạm tham nhũng cụ thể qui định trong Bộ luật này.
        Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2018, trong đó có sự kế thừa Bộ luật Hình sự năm 1999 và sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung mới liên quan đến tội tham nhũng. Những nội dung mới này được đánh giá là sẽ góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng và khắc phục những bất cập trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước. Tuy nhiên, về cấu trúc của Chương XXIV Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) so với Bộ luật Hình sự năm 1999 không thay đổi. Chương này có 15 điều chia làm 2 mục, Mục A có 7 điều quy định tội phạm tham nhũng, Mục B có 7 điều quy định về các tội phạm về chức vụ khác.và 1 khái niệm chung. Cụ thể’ các tội tham nhũng có những điểm sau đây:
        Quy định khái niệm các tội phạm về chức vụ
        Tại Điều 352 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “1. Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ; 2. Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”.
        So sánh với khái niệm tội phạm về chức vụ trong Bộ luật Hình sự năm 1999 có bổ sung thêm cụm từ “nhiệm vụ” vào sau “công vụ” trong khái niệm các tội phạm về chức vụ ở cả hai khoản của điều luật, cho thấy khái niệm có hai điểm mới có ý nghĩa quan trọng thay đổi nhận thức lâu nay về chủ thể của các tội phạm về chức vụ nói chung, tội phạm tham nhũng nói riêng và phạm vi trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm nhũng, cụ thể:
        Thứ nhất, mở rộng chủ thể trong khái niệm tội phạm về chức vụ, theo Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định chủ thể của các tội phạm về chức vụ có những đặc điểm: 1) chủ thể phải là người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội có quyền lực công (quyền lực Nhà nước), chức vụ đó được công nhận qua các hình thức pháp lý như do được bổ nhiệm của cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền, do bầu cử theo quy định của Luật Bầu cử, chức vụ quyền hạn hoặc do hợp đồng hoặc do một hình thức khác thông qua chủ thể nhà nước với cá nhân đại diện Nhà nước được giao quyền bằng hình thức hợp pháp; 2) chủ thể phải có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành “công vụ” để phạm tội, nghĩa là phải sử dụng quyền lực công được Nhà nước giao cho mình khi đang thực thi công vụ mà làm trái với công vụ. Như vậy, theo Bộ luật Hình sự 1999 thì đối tượng không phải là chủ thể tội phạm về chức vụ là người không có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước hoặc trong hệ thống chính trị hoặc tuy có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng vào “công vụ” mà phạm tội ngoài công vụ.
        Theo qui định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để tiếp thu tinh thần Hiến pháp năm 2013 với việc yêu cầu nhằm nội luật hóa các qui định có liên quan của điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên, đáp ứng yêu cầu hội nhập, tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời, xử lý tội phạm trong thực tiễn, đồng thời đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hình sự, theo đó chủ thể các tội phạm về chức vụ không chỉ thi hành “công vụ” như Bộ luật Hình sự năm 1999 mà được mở rộng cả trong các trường hợp thực hiện các “nhiệm vụ”. Như vậy, với quy định như BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì chủ có đặc điểm: 1) chủ thể thực hiện tội phạm về chức vụ không chỉ là người có chức vụ trong khi thực hiện “công vụ”, mà còn là người có chức vụ tư trong khi thực hiện “nhiệm vụ” đó là giám đốc, phó giám đốc, kế toán, thủ quỹ, thủ kho tại các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước, của tổ chức quốc tế hoặc trong các doanh nghiệp, tổ chức thuộc khu vực tư nhân như các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài, các công ty liên doanh có vốn Nhà nước tham gia, công ty cổ phần, hợp tác xã; 2) đối với người có “quyền lực công” thì lợi dụng công vụ được giao để làm trái công vụ, với người có “chức vụ tư” có hành vi lợi dụng nhiệm vụ được giao làm trái nhiệm vụ đều là chủ thể của tội phạm về chức vụ.
        Thứ hai, mở rộng phạm vi về các tội phạm tham nhũng, Bộ luật Hình sự năm 1999, trên cơ sở quy định về các hành vi tham nhũng trong Luật phòng chống tham nhũng, đã hình sự hóa 7 hành vi tham nhũng qui định trong Mục B các tội tham về tham nhũng, đó là các hành vi sau: 1) hành vi tham ô tài sản; 2) hành vi nhận hối lộ; 3) hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; 4) hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ nhằm trục lợi; 5) hành vi lạm quyền trong khi thi hành công vụ để trực lợi: 6) hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; 7) hành vi giả mạo trong công tác nhằm trục lợi.
        Tuy nhiên, theo BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), mở rộng phạm vi tham nhũng trong lĩnh vực tư, cụ thể: Tại Khoản 6 của các điều 353, 354, 364 và Khoản 7 Điều 365 quy định về các tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ, tội đưa hối lộ và tội môi giối hối lộ, có quy định: Đối với người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản hoặc nhận hối lộ thì xử lý như tội tham ô tài sản hoặc tội nhận hối lộ, đối với người có hành vi đưa hối lộ hoặc người có hành vi môi giới hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước thì cũng bị xử lý như tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ, điều này cho phép xác định “hành vi đưa hối lộ và môi giới hối lộ là tội phạm tham nhũng” đây là các hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ là các tội phạm khác về chức vụ, việc quy định này là phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và các khuyến nghị từ báo cáo đánh giá quốc gia về Việt Nam của Công ước UNCAC, đoạn 181 quan sát về việc thực hiện Điều 21 điểm (b) - Hối lộ trong khu vực tư, các chuyên gia đánh giá cho rằng: Việt Nam cần phải ưu tiên việc ban hành các quy định pháp luật liên quan đến tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ trong khu vực tư, vì sự thiếu vắng các biện pháp liên quan này là một thách thức hàng đầu trong cuộc chiến chống tham nhũng ở Việt Nam[1].
        Quy định các tội tham nhũng trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
        Tội phạm tham ô tài sản Tội tham ô tài sản (Điều 353): Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ 02 triệu đồng trở lên hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; đã bị kết án về một trong các tội phạm về tham nhũng; chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Những điểm mới so với Bộ luật Hình sự năm 1999:
        Một là, tăng mức định lượng về giá trị tiền, tài sản bị chiếm đoạt trong cấu thành cơ bản và cấu thành tăng nặng, cụ thể’: Từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng (Khoản 1 Điều 353); từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng (Khoản 2 Điều 353); từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng (Khoản 3 Điều 353); từ 1 tỷ đồng trở lên (Khoản 4 Điều 353). Như vậy, theo quy định của BLHS năm 1999 mức tài sản bị chiếm đoạt trong cấu thành cơ bản qui định tại Khoản 1 thấp hơn chỉ từ 2 triệu động đến 50 triệu động, tương tự các mức tài sản bị chiếm đoạt trong các khung tăng nặng cũng thấp hơn qui định mới, qui định như hiện nay là rõ ràng hơn, phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng trong tình hình mới.
        Hai là, bổ sung nhóm chủ thể phạm tội tham ô tài sản là người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước trong khi thực hiện nhiệm vụ (Khoản 6 Điều 353), theo đó đã mở rộng diện chủ thể phạm tội tham ô gồm nhóm các bộ, công chức, viên chức Nhà nước và cả nhóm chủ thề có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan doanh nghiệp ngoài Nhà nước.
        Ba là, thay tình tiết có tính “định tính” bằng “định lượng” cụ thể.
        Thay cụm từ “gây thiệt hại nghiêm trọng” bằng “gây thiệt hại về tài sản từ 1 tỷ đồng đến dưới 3 tỷ đồng”; Thay cụm từ “gây thiệt hại rất nghiêm trọng” bằng “Gây thiệt hại về tài sản từ 3 tỷ đồng đến dưới 5 tỷ đồng”; Thay cụm từ “gây thiệt hại rất nghiêm trọng” bằng “gây thiệt hại về tài sản 5 tỷ đồng trở lên”. Việc thay tình tiết như trên, xuất phát từ thực tiễn áp dụng pháp luật Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với các tội phạm tham nhũng, khi áp dụng tính tiết có tính “định tính” như: Gây hậu nghiêm trọng, rất nghiệm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 “Mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân phải do luật định” (Khoản 2 Điều 14).
        Bốn là, liên quan đến trách nhiệm đối với tội tham ô tài sản trong BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hai điểm mới là: 1) không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội tham ô tài sản đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353. Qui định này là nhằm tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước trong việc xử lý đến cùng tội phạm tham nhũng. Đối với các trường hợp này, bất kể thời điểm nào phát hiện được tội phạm là xử lý theo qui định của pháp luật (Điều 28 BLHS năm 2015); 2) người đã bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản mà sau khi kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì sẽ không thi hành án tử hình đối với người bị kết án và chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân. Quy định này nhằm hạn chế việc áp dụng hình phạt tử hình trên thực tế, góp phần thực hiện chủ trương của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị là giảm hình phạt tử hình, đồng thời khuyến khích người phạm tội tham nhũng khắc phục hậu quả, nộp lại tiền cho Nhà nước và hợp tác với cơ quan có thẩm quyền phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm để hưởng chính sách khoan hồng.
        Tội nhận hối lộ
        Tội nhận hối lộ (Điều 354): Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác có giá trị từ 02 triệu đồng trở lên hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội phạm về tham nhũng; chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; lợi ích phi vật chất cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Theo quy định này so với Bộ luật Hình sự năm 1999 có những điểm mới sau:
        Một là, mở rộng diện “của hối lộ”, theo đó “của hối lộ” trong cấu thành tội phạm này gồm hai nhóm: 1) nhóm có giá trị vật chất là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá và giá trị xử dụng dùng đưa và nhận hối lộ như vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản; 2) nhóm lợi ích “phi vật chất” còn gọi là lợi ích tinh thần gồm nhiều hình thức khác nhau có thể mang lại giá trị về mặt tinh thần cho người phạm tội như hối lộ về tình dục, hối lộ về chức vụ, vị trí, việc làm... Việc mở rộng diện “của hối lộ” trong cấu thành tội này xuất phát từ thực tiễn và qui định của Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, theo đó, các quốc gia thành viên phải quy định nội hàm “của hối lộ” hoặc những thiệt hại do tham nhũng gây ra là những lợi ích bất chính, tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào, vô hình hoặc hữu hình, vật chất hoặc tinh thần, tiền tệ hoặc phi vật chất.
        Hai là, sửa đổi, bổ sung cấu thành cơ bản của tội nhận hối lộ cụ thể là: Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn... nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho “chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác...”
        Ba là, nâng mức định lượng về giá “của hối lộ” trong cấu thành cơ bản và cấu thành tăng nặng, cụ thể: từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng (Khoản 1); từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng (Khoản 2); từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng (Khoản 3); từ 1 tỷ đồng trở lên (Khoản 4).
        Bốn là, thay tình tiết có tính “định tính” bằng “định lượng” như tội tham ô tài sản, cụ thể là: Thay cụm từ “gây thiệt hại nghiêm trọng” bằng “gây thiệt hại về tài sản từ 1 tỷ đồng đến dưới 3 tỷ đồng”; Thay cụm từ “gây thiệt hại rất nghiêm trọng” bằng “gây thiệt hại về tài sản từ 3 tỷ đồng đến dưới 5 tỷ đồng”; Thay cụm từ “gây thiệt hại rất nghiêm trọng” bằng “gây thiệt hại về tài sản 5 tỷ đồng trở lên”
        Năm là, liên quan đến trách nhiệm đối với tội nhận hối lộ cũng giống như tội tham ô tài sản: 1) không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội nhận hối lộ đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 354; 2) người đã bị kết án tử hình về tội nhận hối lộ sau khi kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì sẽ không thi hành án tử hình đối với người bị kết án và chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
        Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản
        Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355): Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 02 triệu đồng trở lên hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này; đã bị kết án về một trong các tội phạm về tham nhũng; chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. So với qu định của Bộ luật Hình sự 1999 có một số điểm mới như sau:
        Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung tăng định lượng về giá trị tiền, tài sản đã chiếm đoạt trong cấu thành cơ bản và cấu thành tăng nặng của điều luật, cụ thể là: Từ 2 triệu đồng lên 100 triệu đồng (khoản 1 cấu thành cơ bản); Khoản 2 từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; Khoản 3 từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng; Khoản 4 từ 1 tỷ đồng trở lên;
        Thứ hai, thay tình tiết có tính “ định tính” bằng “định lượng” cụ thể là: Thay cụm từ “gây thiệt hại nghiêm trọng” bằng tình tiết “gây thiệt hại về tài sản” trong khung tăng nặng tại các khoản 2,3 và 4 của điều luật này như quy định tại điều 354, 354 BLHS 2015.
        Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
        Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356): Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Những điểm mới của tội này so với qui định của Bộ luật Hình sự 1999 là:
        Một là, bổ sung mới trong cấu thành cơ bản, về giá trị tài sản gây thiệt hại là từ 10 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng, việc định lượng giá trị tài sản bị thiệt hại do hành vi của người có chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại sẽ tạo cơ sở pháp lý cụ thể trong thực tiễn xử lý hành vi lợi chức vụ, quyền hạn phạm tội nói trên. Tuy nhiên, trong cấu thành tội phạm này vẫn cần hướng dẫn để áp dụng trong trường hợp “gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
        Hai là, bổ sung tình tiết định khung tăng nặng đối với trường hợp “gây thiệt hại về tài sản” cụ thể, gây thiệt hại về tài sản từ 200 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng cho khung hình phạt 5 đến 10 năm tù (Khoản 2); từ 1 tỷ đồng trở lên cho mức hình phạt từ 10 đến 15 năm tù (Khoản 3).
        Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ
        Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357): Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10 triệu đồng trở lên hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Tội này có những điểm mới như sau:
        Một là, bổ sung giá trị tài sản gây thiệt hại là từ 10 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng bên cạnh quy định gây thiệt hại lợi ích khác trong cấu thành cơ bản của tội phạm, quy định này tạo cơ sở pháp lý cụ thể trong việc xác định trách nhiệm hình sự đối với loại hành vi phạm tội này.
        Hai là, bổ sung tình tiết định khung tăng nặng đối với trường hợp “gây thiệt hại về tài sản” cụ thề, từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng (Khoản 2); từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ 500 triệu đồng (Khoản 3); từ 1 tỷ 500 triệu đồng trở lên (Khoản 4).
        Ba là, sửa cấu thành tăng nặng của tội này, cụ thể là tách các tình tiết tăng nặng gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng được quy định ở cùng một khung trong Bộ luật Hình sự năm 1999 để quy định ở hai khung hình phạt khác nhau trong BLHS năm 2015. Cụ thể nếu gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ 500 triệu đồng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm (khoản 3); gây thiệt hại về tài sản từ 1 tỷ 500 triệu đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm (khoản 4).
        Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi
        Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358): Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đòi, nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 02 triệu đồng trở lên hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; lợi ích phi vật chất để dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của họ hoặc làm một việc không được phép làm. Những quy định mới của tội này so với Bộ luật Hình sự năm 1999 là:
        Sửa đổi theo hướng tăng mức giá trị tài sản trục lợi trong cấu thành cơ bản của tội này so với Bộ luật Hình sự năm 1999 từ 2 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng lên mức từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng.
        Bổ sung “lợi ích phi vật chất” vào danh mục lợi ích nhằm trục lợi như tội nhận hối lộ (Điều 354).
        Sửa đổi, bổ sung tình tiết định khung tăng nặng đối với trường hợp “gây thiệt hại về tài sản ” theo hướng tăng mức thiệt hại, cụ thể gây thiệt hại về tài sản từ 1 tỷ đồng đến dưới 3 tỷ đồng (Khoản 2); gây thiệt hại từ 3 tỷ đồng đến dưới 5 tỷ đồng (Khoản 3); gây thiệt hại về tài sản 5 tỷ đồng trở lên (Khoản 4).
        Tội giả mạo trong công tác
        Tội giả mạo trong công tác vì vụ lợi (Điều 359): Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; làm, cấp giấy tờ giả; giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn. Những quy định mới của tội này là:
        Sửa đổi, bổ sung quy định mức, số lượng giấy tờ giả đã được làm, cấp để làm căn cứ tăng nặng trách nhiệm hình sự , cụ thể: Khoản 2 mức từ 2 giấy tờ giả đến 5 giấy tờ giả thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm; Khoản 3 từ 6 giấy tờ giả đến 10 giấy tờ giả thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm; khoản 4 qui định số lượng giấy tờ giả từ 11 trở lên thì bị phạt tù từ 12 đến 20 năm.
        Tội đưa hối lộ
        Tội đưa hối lộ (Điều 364): Người nào trực tiếp hay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào sau đây để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. So với Bộ luật Hình sự năm 1999 tội này có những điểm quy định mới như sau:
        Một là, bổ sung mới quy định người đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý về tội nhận hối lộ (Khoản 6 Điều 364), quy định này khẳng định hành vi đưa hối lộ này là thuộc nhóm tội phạm tham nhũng.
        Hai là, bổ sung tình tiết định khung tăng nặng “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” vào tội đưa hối lộ (Điểm d Khoản 2 Điều 364) để xử lý nghiêm khắc đối với người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để đưa hối lộ.
        Ba là, để bảo đảm sự thống nhất về kỹ thuật lập pháp với quy định về tội nhận hối lộ, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định một cách cụ thể hơn về hành vi đưa hối lộ như sau: “Người nào trực tiếp hay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào sau đây để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ”.
        Tội môi giới hối lộ
        Tội môi giới hối lộ (Điều 365): Người nào môi giới hối lộ mà của hối lộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
        a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng; b) Lợi ích phi vật chất. Theo đó, những qui định mới của tội này so với Bộ luật Hình sự năm 1999 như sau:
        Một là, bổ sung nhóm “của đưa hối lộ” cho người có chức vụ là các loại lợi ích “phi vật chất” trong cấu thành cơ bản của tội này (xem phân tích trong Điều 354 tội nhận hối lộ).
        Hai là, bổ sung qui định mới về trách nhiệm hình sự của tội môi giới hối lộ (xem thêm phân tích Điều 354) người nào môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý về tội môi giới hối lộ (Khoản 7 Điều 365).
        Ba là, sửa đổi, bổ sung theo hướng nâng mức tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng lên thành từ 2 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng (Khoản 1); từ 10 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng lên thành từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng (Khoản 2); từ 50 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng lên thành từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng (Khoản 3); từ 300 triệu trở lên lên thành 1 tỷ đồng trở lên (Khoản 4).
        Bốn là, bổ sung qui định mới về trách nhiệm hình sự của tội này trong lĩnh vự tư, đó là người nào môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tội môi giới hối lộ (Khoản 7 Điều 265).
        ---------------------
        Tài liệu tham khảo
        1. Bộ Tư pháp, Báo cáo giải trình về việc sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 1999, Hà Nội, năm 2015.
        2. Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia có hiệu lực từ ngày 29 tháng 9 năm 2003.
        3. Quốc hội (2009), Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đối năm 2009), Nxb Sự thật, Hà Nội.
        4. Quốc hội (2015), Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
        5. Nguyễn Văn Hương, Vấn đề hình sự hóa quy định của Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng ở Việt Nam, Trang thông tin khoa học của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/113.
        6. Vũ Hải Yến, Hình sự hóa hành vi tham nhũng trong khu vực tư, Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp, http:// moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu- trao-doi.aspx?ItemID=1839, cập nhật ngày 01/09/2015.

 

[1] Vũ Hải Yến, Hình sự hóa hành vi tham nhũng trong khu vực tư, Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp, http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/ nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1839, cập nhật ngày 01/09/2015.

Tác giả bài viết: Phạm Xuân Ngọc
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng trên Tạp chí KHGD CSND số 102 (T4/2018)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (15/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (29/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (20/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (12/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (26/10/2017)

Số: Chỉ thị số 14-CT/TW
Tên: (Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng)

Ngày BH: (19/07/2017)

Số: 1884/QyĐ-T48
Tên: (Quy định về văn hóa ứng xử của cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Trường Đại học CSND)

Ngày BH: (13/10/2017)

Số: 27/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân)

Ngày BH: (22/08/2017)

Số: 124/2015/NĐ-CP
Tên: (NGHỊ ĐỊNH SỐ 185/2013/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2013)

Ngày BH: (15/11/2013)