Rss Feed
Chào mừng Khai giảng năm học 2020-2021 Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Những điểm mới quy định về vị trí, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Công an nhân dân theo Luật CAND năm 2018

Đăng lúc: Thứ tư - 15/04/2020 23:52 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
Ngày 20 tháng 11 năm 2018, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Công an nhân dân số 37/2018/QH13 (sau đây gọi là Luật Công an nhân dân năm 2018). Chủ tịch nước ký Lệnh số 15/2018/L-CTN ngày 04/12/2018 công bố Luật Công an nhân dân. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2019. Luật Công an nhân dân năm 2018 quy định nhiều điểm mới trong đó có quy định về vị trí, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Công an nhân dân. Đây là quy định quan trọng trong xây dựng lực lượng Công an nhân dân hiện nay.
        Luật Công an nhân dân năm 2018 gồm 07 chương, 46 điều. So với Luật Công an nhân dân 2014 (07 chương, 45 điều), Luật Công an nhân dân năm 2018 đã bổ sung 03 điều, sửa đổi, bổ sung 40 điều, bỏ 02 điều. Trên cơ sở kế thừa nội dung quy định về phạm vi điều chỉnh của luật Công an nhân dân năm 2014, Luật Công an nhân dân 2018 tiếp tục cụ thể hóa các quy định liên quan của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, hệ thống lại những quy định liên quan đến vị trí, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Công an nhân dân được quy định tại các luật chuyên ngành khác, luật hóa những quy phạm pháp luật dưới luật, đồng thời, bổ sung những quy định mới trên cơ sở quán triệt, thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách trong các nghị quyết của Đảng và tổng kết thực tiễn tổ chức, hoạt động của Công an nhân dân trong nhiều năm qua. Với những điểm mới quy định như sau:
        Về vị trí của Công an nhân dân Tại Điều 3 Luật Công an nhân dân năm 2018 quy định: “Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”.
        Theo đó, Luật đã xác định rõ hơn Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an ninh xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tính chất vũ trang của Công an nhân dân đã được quy định tại nhiều Nghị quyết của Đảng, Nhà nước cụ thể như: Nghị quyết số 40-NQ/ TW ngày 08/11/2004 của Bộ Chính trị về nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác Công an trong tình hình mới; Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của Ban Chấp hành trung ương về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đặc biệt là cụ thể hóa các điều quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013[1], bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước ta và phù hợp với thực tiễn hoạt động của Công an nhân dân từ khi thành lập cho đến nay; là lực lượng vũ trang, có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng chiến đấu cao, lực lượng Công an nhân dân đã làm thất bại nhiều âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, cơ quan tình báo, gián điệp cũng như đấu tranh, phòng, chống và xử lý các hành vi phạm tội, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trong quá trình hội nhập, phát triển của đất nước.
        Công an nhân dân không chỉ có vị trí trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mà còn có vị trí rất quan trọng trong xử lý các vi phạm pháp luật khác (thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của CAND chiếm gần 80%). Do đó, Luật Công an nhân dân năm 2018 đã bổ sung nội dung Công an nhân dân làm nòng cốt trong đấu tranh phòng, chống các vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; cụ thể như sau: “Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”.
        So với Luật Công an nhân dân năm 2014, Luật Công an nhân dân năm 2018 không quy định cơ cấu của Công an nhân dân gồm lực lượng An ninh nhân dân và lực lượng Cảnh sát nhân dân nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới, sắp xếp tổ chứ bộ máy cho phù hợp với tình hình mới. Bởi Công an nhân dân không chỉ có lực lượng An ninh, Cảnh sát mà bao gồm nhiều lực lượng như: An ninh, Cảnh sát, Tình báo, Hậu cần - Kỹ thuật, Tham mưu, Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Cảnh vệ... Do đó, việc không quy định cơ cấu các lực lượng này để bảo đảm linh hoạt, thuận lợi cho việc điều động, luân chuyển lãnh đạo, cán bộ giữa các đơn vị.
        Về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Công an nhân dân
        Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Công an nhân dân là tổng thể các tư tưởng quan điểm chỉ đạo, chi phối toàn bộ quá trình xây dựng, tổ chức và tiến hành các hoạt động của Công an nhân dân. Vừa là một bộ phận cấu thành trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, vừa là một lực lượng có tính chất đặc thù nên Công an nhân dân không chỉ tuân thủ các nguyên tắc, tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung mà còn phải tuân theo một số nguyên tắc riêng của lực lượng vũ trang nhân dân. Luật Công an nhân dân năm 2018 tiếp tục kế thừa các quy định về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Công an nhân dân của Luật Công an nhân dân năm 2014; đồng thời, đổi mới về kỹ thuật lập pháp để bảo đảm kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật được khoa học, phù hợp với tên Điều luật. Tại Điều 4 Luật Công an nhân dân năm 2018 quy định: Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Công an nhân dân cụ thể như sau:
        Thứ nhất: Lực lượng Công an nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ và sự chỉ huy, quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Công an.
        Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là vấn đề nguyên tắc đã được quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Công an nhân dân là bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước, là lực lượng vũ trang nhân nhân làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, do đó phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Đảng đề ra chủ trương, đường lối công tác Công an, chọn cử cán bộ lãnh đạo Công an các cấp tham gia cấp ủy (Bộ trưởng Bộ Công an là Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ trưởng Công an các cấp được cơ cấu trong thường vụ cấp ủy đảng cùng cấp), lãnh đạo các hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, chỉ đạo kiểm tra và xử lý vi phạm về lĩnh vực này theo quy định của Đảng.
        Theo quy định Hiến pháp năm 2013, Chủ tịch nước thống lĩnh các lực lượng vũ trang (gồm Quân đội nhân dân và Công an nhân dân) và là Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và An ninh; quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng (Thiếu tướng, Trung tướng, Thượng tướng, Đại tướng đối với Công an nhân dân); căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp;... Do đó, Luật Công an nhân dân 2018 đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp để tiếp tục khẳng định sự thống lĩnh của Chủ tịch nước đối với Công an nhân dân.
        Theo Điều 20 Luật Tổ chức Chính phủ quy định Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn thống nhất quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; Thực hiện chính sách, pháp luật nhằm xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm; Tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật xây dựng nền an ninh nhân dân, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, giữ vững ổn định chính trị, phòng ngừa và đấu tranh chống các loại tội phạm, vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; Thực hiện chính sách ưu đãi, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần và chính sách đối với cán bộ, chiến sỹ, công nhân công an. Bộ Công an nằm trong cơ cấu tổ chức của Chính phủ nên phải chịu quản lý, điều hành thống nhất của Chính phủ.
        Bộ trưởng Bộ Công an là Ủy viên Bộ Chính trị, thành viên Chính phủ, người chỉ huy, quản lý trực tiếp của Công an nhân dân, chịu trách nhiệm trước Đảng, Quốc hội, Chính phủ và nhân dân về tổ chức, hoạt động của Công an nhân dân. Bộ trưởng Bộ Công an chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trong phạm vi cả nước, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại các điều 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38 Luật Tổ chức chính phủ năm 2015.
        Thứ hai: Lực lượng Công an nhân dân được tổ chức tập trung, thống nhất, chuyên sâu, tinh gọn và theo cấp hành chính từ trung ương đến cơ sở.
        Ngày 15/3/2018, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW “về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, trong đó xác định xây dựng tổ chức đầu mối, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, xây dựng tổ chức bộ máy Bộ Công an tập trung, thống nhất, chuyên sâu, tinh gọn đầu mối, hoạt động hiệu lực, hiệu quả tăng cường cho cơ sở theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”. Thể chế hóa quan điểm chỉ đạo này, Luật Công an nhân dân năm 2018 đã quy định tổ chức, hoạt động của Công an nhân dân phải được tổ chức tập trung, thống nhất, chuyên sâu, tinh gọn và theo cấp hành chính từ trung ương đến cơ sở. Việc bổ sung nội dung “Chuyên sâu, tinh gọn” là nội dung rất quan trọng cần được quán triệt trong tổ chức xây dựng lực lượng Công an nhân dân, đòi hỏi lực lượng và cán bộ chiến sĩ Công an cần phải am hiểu và nắm chắc nhiệm vụ để thực hiện có hiệu quả cao nhất. Bộ Công an không tổ chức cấp Tổng cục; củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của các đơn vị cấp cục thuộc Bộ; sắp xếp, thu gọn các đầu mối; xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy.
        Thứ ba: Lực lượng Công an nhân dân tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; cấp dưới phục tùng cấp trên; dựa vào Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
        Ở nước ta, hoạt động của mọi cá nhân, tổ chức đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Công an nhân dân là một tổ chức chức trong bộ máy nhà nước; cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân vừa là công dân, vừa là người thực thi pháp luật, bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật; do đó, hoạt động của Công an nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Công an phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Cấp dưới phục tùng cấp trên là nguyên tắc kết hợp giữa chế độ thủ trưởng trong quản lý hành chính và chế độ mệnh lệnh trong lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, trong Công an nhân dân nói riêng. Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi tổ chức trong Công an nhân dân, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân phải nắm vững pháp luật, thực hiện nghiêm chỉnh quy định của pháp luật trong hoạt động của mình theo đúng chức trách được phân công, không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
        Luật Công an nhân dân năm 2018 không thay thế các luật, pháp lệnh có liên quan đến tổ chức, hoạt động của Công an nhân dân trong những lĩnh vực đặc thù đang có hiệu lực thi hành. Vì vậy, tổ chức và hoạt động của Công an nhân dân trong lĩnh vực đặc thù đó vừa thực hiện theo những quy định chung của Luật Công an nhân dân năm 2018, vừa thực hiện theo những quy định riêng của các văn bản tương ứng.
        Để những nội dung đổi mới trong Luật Công an nhân dân năm 2018 được toàn bộ các bộ, chiến sĩ nắm vững và thực hiện thống nhất, trong lực lượng cần tiến hành các nội dung sau:
        Một là, làm tốt công tác tuyên truyền Luật Công an nhân dân năm 2018. Các đơn vị chức năng trong Công an cần tổ chức tuyên truyền nội dung của Luật Công an nhân dân và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thi hành Luật. Cần đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền trên phương tiện truyền thông đại chúng đặc biệt là Chương trình Phát thanh và truyền hình Vì An ninh Tổ quốc, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Công an các đơn vị, địa phương, Tạp chí Công an nhân dân, Tạp chí giáo dục Cảnh sát nhân dân tại các trường Công an nhân dân.
        Hai là, tổ chức tập huấn chuyên sâu các nội dung trong Luật Công an nhân dân năm 2018. Nhằm thống nhất nhận thức, triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của Luật và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Công an nhân dân năm 2018, Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan biên soạn, in ấn tài liệu, tổ chức tập huấn chuyên sâu về Luật Công an nhân dân và các văn bản hướng dẫn thi hành cho lãnh đạo, báo cáo viên pháp luật Công an các cấp và lãnh đạo, giáo viên các Học viện, Trường trong Công an nhân dân. Trên cơ sở nội dung tập huấn, các Học viện, Trường Công an nhân dân cần chủ động rà soát hệ thống giáo trình và tài liệu giảng dạy liên quan đến những nội dung đổi mới trong Luật Công an nhân dân 2018 để có kế hoạch sửa đổi, bổ sung phù hợp với Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành.
        Ba là, lãnh đạo công an các đơn vị, địa phương cần phổ biến, quán triệt thường xuyên cho cán bộ, chiến sỹ những nội dung, quy định mới và tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản quy định hướng dẫn các điều khoản trong Luật Công an nhân dân 2018 tại đơn vị, địa phương mình.
        Bốn là, tổ chức sơ kết, tổng kết quá trình thực hiện Luật Công an nhân dân. Sau thời gian từ một đến hai năm triển khai thực hiện Luật Công an nhân dân, cần có sơ kết để đánh giá kết quả đạt được, phát hiện những cách tuyên truyền hay, thực hiện có hiệu quả; những đơn vị, địa phương thực hiện tốt công tác triển khai thi hành Luật để nhân rộng. Qua đó cũng kịp thời phát hiện những vướng mắc trong quá trình triển khai để tham mưu đề xuất bổ sung văn bản hướng dẫn, đảm bảo Luật Công an nhân dân thực hiện thống nhất, chất lượng, góp phần nâng cao hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội thời gian tới.
 
---------------------
Tài liệu tham khảo
1. Quốc Hội, Luật Công an nhân dân số 73/2018/QH13, Hà Nội, năm 2018.
2. Quốc Hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội, năm 2013.
3. Quốc Hội, Luật Công an nhân dân số 37/2018/QH13, Hà Nội, năm 2018.
4. Cục Pháp chế và cải cách tư pháp, Tài liệu tập huấn Luật Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2019.
 

[1] Điều 65, 66, 67 và 68 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tác giả bài viết: Nguyễn Thanh Trung
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 120
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

Ý kiến bạn đọc