Rss Feed
Chào mừng Khai giảng năm học 2020-2021 Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Tìm hiểu quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về hoạt động khám nghiệm tử thi

Đăng lúc: Thứ hai - 06/04/2020 07:41 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
Tại kỳ họp lần thứ 10 Quốc hội khóa XIII đã biểu quyết thông qua Bộ luật số 101/2015/QH13 (gọi tắt là Bộ luật TTHS năm 2015). Trong phạm vi bài viết này xin giới thiệu những nội dung mới trong quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 về hoạt động khám nghiệm tử thi trong các vụ án hình sự.
         Khám nghiệm tử thi (KNTT) là hoạt động tố tụng được tiến hành trên thân thể người chết nhằm làm rõ nguyên nhân chết, thu lượm dấu vết, chứng cứ phục vụ giải quyết vụ việc, vụ án[1][2][3]; KNTT là một biện pháp nghiệp vụ của ngành Công an, dùng để thu thập thông tin trên tử thi người chết nhằm xác định thời gian chết, nguyên nhân chết, thể loại chết, xác định phương thức gây án và thủ đoạn che giấu hành vi phạm tội, góp phần xác định diễn biến vụ việc đã xảy ra, giúp làm rõ thủ phạm và động cơ gây án2; KNTT là hoạt động điều tra TTHS do cơ quan chức năng tiến hành khám xét trên tử thi nhằm phát hiện, ghi nhận, thu thập và đánh giá các dấu hiệu, dấu vết xuất hiện và tồn tại trên tử thi phục vụ cho điều tra, làm rõ bản chất vụ việc3.
         Trong quá trình điều tra, làm rõ các vụ án giết người nói riêng, các vụ việc có người chết nói chung, hoạt động KNTT là một trong những hoạt động bắt buộc phải tiến hành, kết quả của hoạt động KNTT là cơ sở quan trọng để kết luận bản chất của vụ việc có người chết đã xảy ra. Với ý nghĩa đó, Bộ luật TTHS năm 2003 tại các Điều 35[4], Điều 77[5], Điều 151[6], Điều 154[7] đã quy định những vấn đề liên quan về hoạt động KNTT, tuy nhiên quá trình áp dụng những điều luật này đã cho thấy nhiều vấn đề bất cập, gây ra những khó khăn nhất định trong quá trình thực thi pháp luật TTHS nói chung, điều tra, làm rõ các vụ việc có người chết đã xảy ra nói riêng, chẳng hạn: Điều 35 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định Điều tra viên có nhiệm vụ tiến hành KNTT, Điều 151 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định “Điều tra viên tiến hành hoạt động khám nghiệm tử thi..nhưng thực tế hoạt động này lại do Bác sỹ pháp y thực hiện; hay Điều 151 Bộ luật TTHS quy định “Kiểm sát viên phải có mặt để tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm tử thi” nhưng Điều 37 Bộ luật TTHS năm 2003[8] quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên lại không đề cập đến nhiệm vụ kiểm sát hoạt động KNTT.
         Để khắc phục những bất cập nêu trên, tại kỳ họp lần thứ 10 Quốc hội khóa XIII đã biểu quyết thông qua Bộ luật TTHS năm 2015 với 04 Điều luật quy định cụ thể về hoạt động KNTT, bao gồm: Điều 37. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên; Điều 42. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên; Điều 147. Thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Điều 202. Khám nghiệm tử thi.
         Nghiên cứu nội dung các điều luật này cho thấy, Bộ luật TTHS năm 2015 đã có những thay đổi, bổ sung về nội dung quy định đối với hoạt động KNTT nhằm tạo cơ sở pháp lý, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động khám nghiệm hiện trường nói riêng, điều tra, làm rõ các vụ việc có người chết nói chung xảy ra trong thời gian tới, cụ thể:
         Thứ nhất, bổ sung nội dung “trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm tử thi” vào điều luật quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên. Nội dung bổ sung này tạo nên tính thống nhất giữa quy định của các điều luật có liên quan trong Bộ luật TTHS năm 2015, đồng thời việc quy định “Kiểm sát viên trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm tử thi” cũng tạo nên cơ sở pháp lý để điều chỉnh thực trạng Kiểm sát viên chỉ ký tên trong biên bản khám nghiệm hiện trường, KNTT mà không trực tiếp kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường, KNTT (không tham gia kiểm sát hoặc giao cho Kiểm tra viên thực hiện kiểm sát). Ngoài ra, khi nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể có liên quan trong hoạt động KNTT nhận thấy: Bộ luật TTHS năm 2015 chưa quy định nội dung KNTT trong nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra[9] và trong nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra[10]; điều này sẽ gây ra những khó khăn nhất định trong thực tế áp dụng điều luật, chính vì thế các cơ quan chức năng có liên quan cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện thống nhất vấn đề này.
         Thứ hai, xác định KNTT là một trong những hoạt động điều tra theo tố tụng hình sự được tiến hành trước khi khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, Bộ luật TTHS năm 2003 lại chưa đề cập, chưa quy định cụ thể vấn đề này nên đã tạo ra những “điểm vênh” nhất định giữa nội dung quy định của pháp luật TTHS với thực tế tiến hành hoạt động KNTT. Để khắc phục điều đó, Bộ luật TTHS năm 2015, tại Điều 147[11] về thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố quy định cụ thể: “1... Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định: a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự; b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; c) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. 3. Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động:. c) Khám nghiệm tử thi;...”. Đây là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để tiến hành hoạt động KNTT phục vụ điều tra, làm rõ các vụ việc có người chết.
         Thứ ba, quy định cụ thể mối quan hệ, trách nhiệm của Điều tra viên, Giám định viên pháp y, Giám định viên kỹ thuật hình sự trong quá trình tiến hành hoạt động KNTT tại khoản 1, 2 Điều 202 Bộ luật TTHS năm 2015. Cụ thể:
         - Đối với Điều tra viên: Điều 151, Bộ luật TTHS năm 2003 quy định “Việc KNTTdo Điều tra viên tiến hành.”, nội dung quy định này chưa phù hợp và thực tế kể từ khi điều luật có hiệu luật thi hành chưa ghi nhận trường hợp nào Điều tra viên trực tiếp tiến hành hoạt động KNTT. Chính vì thế, tại khoản 1, Điều 202, Bộ luật TTHS năm 2015 quy định “Việc KNTT. tiến hành dưới sự chủ trì của Điều tra viên...”, quy định này phù hợp với thực tế hoạt động KNTT, rõ ràng Điều tra viên với trình độ chuyên môn của mình chưa đủ điều kiện để tiến hành KNTT mà việc giải phẫu tử thi phải do Giám định viên pháp y - người có kiến thức chuyên môn về giải phẫu học, được cơ quan chức năng có thẩm quyền[12]bổ nhiệm chức danh tư pháp là Giám định viên pháp y - thực hiện, có như vậy kết quả của hoạt động KNTT mới đảm bảo tính chính xác, khách quan.
         - Đối với Giám định viên pháp y: Tại khoản 1, Điều 202, Bộ luật TTHS năm 2015 quy định “Việc KNTT do giám định viên pháp y tiến hành”. Như vậy, theo quy định Giám định viên pháp y sẽ là người trực tiếp tiến hành xem xét toàn diện các dấu vết, dấu hiệu, tổn thương bên ngoài (khám ngoài) và bên trong (mổ tử thi), thực hiện các xét nghiệm phụ trợ để xác định nguyên nhân chết, xác định cơ chế hình thành thương tích, vật gây thương tích, xác định tổn thương có trước hay sau khi chết... đối với tử thi trong các vụ việc có người chết. Tuy nhiên, điều luật lại chưa quy định cụ thể Giám định viên pháp y được trưng cầu thực hiện KNTT trong các vụ việc có người chết là Giám định viên pháp y trong Công an nhân dân hay Giám định viên pháp y thuộc các tổ chức pháp y ngoài ngành Công an; quy định về trợ lý giám định (y công) hỗ trợ Giám định viên pháp y tiến hành KNTT.
         - Đối với Giám định viên Kỹ thuật hình sự: Tại khoản 2, Điều 202, Bộ luật TTHS năm 2015 quy định “Giám định viên kỹ thuật hình sự có thể được mời tham gia KNTT để phát hiện, thu thập dấu vết phục vụ việc giám định”. Như vậy, Giám định viên kỹ thuật hình sự[13]không phải là thành phần bắt buộc khi tiến hành hoạt động KNTT; trong những trường hợp cần thiết Điều tra viên có thể mời Giám định viên Kỹ thuật hình sự tham gia hoạt động KNTT. Nói cách khác, việc mời hay không mời Giám định viên Kỹ thuật hình sự tham gia KNTT hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Điều tra viên, bởi vì hiện Bộ luật TTHS năm 2015 chưa quy định những trường hợp Điều tra viên bắt buộc phải mời Giám định viên Kỹ thuật hình sự tham gia KNTT. Khi tham gia hoạt động KNTT, Giám định viên Kỹ thuật hình sự có nhiệm vụ phát hiện, thu thập các dấu vết hình sự tồn tại trên tử thi, trên quần áo của tử thi để phục vụ việc giám định.
         Thứ tư, quy định cụ thể nội dung của hoạt động KNTT. Theo nội dung quy định của Điều 202, Bộ luật TTHS năm 2015 thì khi tiến hành hoạt động KNTT ngoài việc xem xét toàn diện các dấu vết, dấu hiệu, tổn thương bên ngoài (khám ngoài) và bên trong (mổ tử thi), thực hiện các xét nghiệm phụ trợ để xác định nguyên nhân chết, xác định cơ chế hình thành thương tích, vật gây thương tích, xác định tổn thương có trước hay sau khi chết... còn phải "... phát hiện, thu thập dấu vết phục vụ việc giám định [14], "... tiến hành chụp ảnh, mô tả dấu vết để lại trên tử thi; chụp ảnh, thu thập, bảo quản mẫu vật phục vụ công tác trưng cầu giám định; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản,[15], [16]. Tuy nhiên, điều luật chỉ mới quy định Giám định viên kỹ thuật hình sự thực hiện phát hiện, thu thập dấu vết phục vụ việc giám định, mà chưa quy định cụ thể’ chủ thể’ tiến hành chụp ảnh, mô tả dấu vết để lại trên tử thi; chụp ảnh, thu thập, bảo quản mẫu vật; ghi biên bản KNTT.
         Thứ năm, bổ sung quy định về KNTT trong trường hợp khai quật tử thi. Trong quá trình xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra, làm rõ vụ án nếu xét thấy cần phải khai quật tử thi để tiến hành KNTT thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định khai quật tử thi[17]; quyết định khai quật tử thi phải theo mẫu số 146 ban hành kèm theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA ngày 14/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự. Đồng thời, khoản 4 Điều 202 Bộ luật TTHS năm 2015 cũng quy định "Trường hợp cần khai quật tử thi thì phải... thông báo cho người thân thích của người chết biết trước khi tiến hành. Trường hợp người chết không có hoặc không xác định được người thân thích của họ thì thông báo cho đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi chôn cất tử thi biết”. Ngoài ra, quá trình KNTT trong trường hợp khai quật tử thi, cũng phải tuân thủ và thực hiện đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, Điều 202 Bộ luật TTHS năm 2015, biên bản KNTT trong trường hợp khai quật tử thi được lập theo mẫu số 147 ban hành kèm theo Thông tư số 61/2017/ TT-BCA ngày 14/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự.
         Trên đây là một số nội dung quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 về hoạt động KNTT trong quá trình điều tra, làm rõ các vụ việc có người chết. Trong thời gian tới, để hoàn thiện cơ sở pháp lý, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng của hoạt động KNTT nói riêng, hoạt động điều tra, khám phá, đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, các cơ quan chức năng có liên quan cần nghiên cứu, sớm ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện thống nhất những vấn đề có liên quan đến hoạt động KNTT quy định chưa cụ thể hoặc chưa được quy định trong Bộ luật TTHS năm 2015, chẳng hạn:
  • Thực tiễn có nhiều trường hợp Cơ quan điều tra, Điều tra viên cho người thân của nạn nhân viết cam kết không khiếu kiện về nguyên nhân chết của nạn nhân, sau đó tổ chức khám ngoài tử thi, mà không thực hiện giải phẫu tử thi. Hiện luật và các văn bản dưới luật vẫn chưa có nội dung cụ thể về vấn đề này.
  • Trong nội dung quy định của Điều 202 Bộ luật TTHS năm 2015 không đề cập đến việc cán bộ kỹ thuật hình sự tham gia KNTT, tuy nhiên Thông tư số 49/2017/TT-BCA ngày 26/10/2017 của Bộ Công an quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực giám định kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi, quy định “Phân công không quá 03 cán bộ kỹ thuật hình sự thực hiện nhiệm vụ khi khám nghiệm, mổ và khai quật 01 tử thi”, đồng thời cũng giải thích “Người giúp việc cho giám định viên Kỹ thuật hình sự bao gồm: Trợ lý giám định viên, kỹ thuật viên; cán bộ kỹ thuật hình sự thực hiện nhiệm khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi, khai quật tử thi”. Như vậy, “vô hình dung” thông tư này quy định việc tham gia của Giám định viên kỹ thuật hình sự trong quá trình KNTT là bắt buộc và tạo thành “điểm vênh” giữa nội dung quy định của thông tư và nội dung quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 về vấn đề này.
------------------------
Tài liệu tham khảo
  1. Nguyễn Ngọc Anh (2009), Bình luận khoa học Bộ luật TTHS năm 2003, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  2. Trần Văn Biên (2017), Bình luận khoa học Bộ luật TTHS năm 2015, Nxb Thế giới, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Bộ Công an (2013), Thông tư số 46/2013/TT-BCA ngày 05/11/2013 của Bộ Trưởng Bộ Công an ban hành các tiêu chuẩn quốc gia trong lĩnh vực an ninh thuộc Bộ Công an.
  4. Bộ Công an (2014), Thông tư số 33/2014/TT-BCA ngày 05/08/2014 của Bộ Trưởng Bộ Công an quy định chi tiết tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, bổ nhiệm, miễm nhiệm giám định viên Kỹ thuật hình sự.
  5. Bộ Công an (2017), Thông tư số 61/2017/TT-BCA ngày 14/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự.

[1] Bộ Công an (2018), Sổ tay Điều tra viên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, trang 311.
[2] Bộ Công an (2005), Từ điển Bách khoa Công an Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, trang 670.
[3]  Học viện CSND (2018), Kỹ thuật hình sự Việt Nam - Tập 2, Nxb Công an nhân dân, trang 552.
[4] Xem Điều 35. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điêu tra viên, Bộ luật TTHS năm 2003.
[5] Xem Điều 77. Biên bản về hoạt động điều tra và xét xử, Bộ luật TTHS năm 2003.
[6] Xem Điều 151. Khám nghiệm tử thi, Bộ luật TTHS năm 2003.
[7]  Xem Điều 154. Biên bản khám nghiệm hiện trường, KNTT, xem xét dấu vết trên thân thể và thực nghiệm điều tra, Bộ luật TTHS năm 2003.
[8]  Xem Điều 37. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của kiểm sát viên, Bộ luật TTHS năm 2003.
[9] Xem Điều 39, Bộ luật TTHS năm 2015.
[10] Xem Điều 40, Bộ luật TTHS năm 2015.
[11]  Xem Điều 47, Bộ luật TTHS năm 2015.
[12] Xem Điều 5, Thông tư số 33/2014/TT-BCA ngày 5/8/2014 của Bộ trưởng BCA quy định chi tiết tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, bổ nhiệm, miễn nhiệm giám điện viên Kỹ thuật hình sự.
[13]  Xem Điều 3, Thông tư số 33/2014/TT-BCA ngày 05/08//2014 của Bộ Trưởng Bộ Công an quy định chi tiết tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, bổ nhiệm, miễm nhiệm giám định viên Kỹ thuật hình sự.
[14]Xem Khoản 2, Điều 202, Bộ luật TTHS năm 2015
[15]Xem khoản 3, Điều 202, Bộ luật TTHS năm 2015
[16]Biên bản KNTT được lập theo mẫu số 147 banhành kèm theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA
[17]Xem khoản 4, Điều 202, Bộ luật TTHS năm 2015

Tác giả bài viết: Phạm Long Hải
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 120
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

Ý kiến bạn đọc