Rss Feed

Tìm hiểu quy định bảo vệ người làm chứng của một số nước trên thế giới và vấn để đặt ra đối với bảo vệ người làm chứng tại Việt Nam

Đăng lúc: Thứ hai - 04/11/2019 12:58 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
Bài viết nghiên cứu, tìm hiểu quy định bảo vệ người làm chứng của một số quốc gia trên thế giới; khái quát, hệ thống các văn bản pháp luật tại Việt Nam về bảo vệ người làm chứng và đề xuất các giải pháp góp phần xây dựng, bổ sung và hoàn thiện quy định về bảo vệ người làm chứng trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
         Theo khoản 1, Điều 66, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng”. Người làm chứng có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ tố tụng hình sự là người phát hiện chính xác, kịp thời tội phạm và người phạm tội. Bởi vì họ là những người biết sự việc, nhưng lại không hoặc ít có liên quan đến tội phạm và người phạm tội nên những thông tin chứa đựng trong lời khai của họ thường mang tính khách quan và đáng tin cậy cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án.
        Vấn đề bảo vệ người làm chứng đã trở nên cấp thiết, hầu hết các quốc gia đều ý thức được và đã có những quy định pháp lý để ngăn chặn sự xâm hại đến người làm chứng. Liên hợp quốc đã ra Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia[1] và các nghị định thư kêu gọi các quốc gia thành viên đưa ra các biện pháp thích hợp để ngăn chặn sự đe dọa người làm chứng và để tăng cường hợp tác quốc tế về vấn đề này. Cụ thể Công ước nêu rõ: “Mỗi Quốc gia thành viên sẽ áp dụng các biện pháp phù hợp theo khả năng của mình để bảo vệ nhân chứng trong các vụ án hình sự một cách hiệu quả khỏi nguy cơ bị trả thù hoặc đe doạ khi họ cung cấp chứng cứ liên quan đến các hành vi phạm tội được Công ước này điều chỉnh, và nếu cần thiết, bảo vệ họ hàng hay những người thân thích của họ”[2].
        Hoa kỳ là quốc gia đầu tiên sớm luật hóa bảo vệ người làm chứng, năm 1970, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua dự luật kiểm soát tội phạm có tổ chức. Ngay sau đó, năm 1971 chương trình bảo vệ nhân chứng (WITSEC) được chính thức triển khai với phạm vi người làm chứng rộng lớn gồm cả những người làm chứng trong các vụ án ma túy, vụ án trọng tội do luật Liên bang quy định hoặc trong các vụ án dân sự, hành chính mà lời khai của người làm chứng cung cấp có thể gây nguy hiểm cho địa vị của người này. Từ năm 1971 đến năm 1988, chương trình WITSEC đã bảo vệ, thay thế chỗ ở, cung cấp danh tính mới cho hơn 5.000 người làm chứng quan trọng. Đến năm 2003 hơn 7.500 người làm chứng quan trọng và 9.600 thành viên của gia đình hoặc người thân thích của người làm chứng đã được sử dụng chương trình bảo vệ nhân chứng. Cơ quan Cảnh sát liên bang (USMS) giành 59,7 triệu đô la và 173 nhân viên để thực hiện chương trình WITSEC năm 2003[3].
        Tại Australia, từ năm 1983 trong cuộc chiến chống tội phạm có tổ chức, vấn đề bảo vệ người làm chứng có tầm quan trọng đặc biệt và được áp dụng bằng cách: Bảo vệ liên tục 24 giờ/ngày hoặc chuyển đổi danh tính và địa chỉ người làm chứng. Năm 1988, Quốc hội Australia đã tiến hành điều tra toàn diện về vấn đề bảo vệ người làm chứng và đi đến quyết định ban hành Đạo luật Bảo vệ nhân chứng vào năm 1994.
        Tại Đức, các chương trình bảo vệ nhân chứng đã được áp dụng từ giữa những năm 1980. Chương trình lần đầu tiên được sử dụng ở Hamburg liên quan đến quá trình điều tra các băng đảng xe máy. Trong những năm sau đó, chương trình được thực hiện một cách có hệ thống bởi các tiểu bang khác và Văn phòng Cảnh sát hình sự liên bang. Năm 1998, Đạo luật Bảo vệ nhân chứng được ban hành, sau đó được sửa đổi, bổ sung 2001. Năm 2003 đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của Đạo luật cho tất cả các văn phòng bảo vệ nhân chứng ở Đức.
        Tại Italia, từ năm 1930 Bộ luật hình sự Italia quy định miễn trừ một phần hoặc toàn bộ từ hình phạt nếu người phạm tội hợp tác với chính quyền trong các trường hợp âm mưu chính trị hoặc các hoạt động liên quan đến băng đảng. Năm 1984, khi Mafioso Tommaso Buscetta quay lưng lại với Mafia và bắt đầu trở thành cộng tác viên với cơ quan công tố, sự bảo vệ người làm chứng đã trở thành chính thức. Buscetta là người làm chứng trọng yếu trong chiến dịch gọi là thử thách tối đa, dẫn đến gần như 350 thành viên Mafia bị tống vào tù. Để đổi lấy sự giúp đỡ Buscetta đã được chuyển đến một địa phương mới. Những sự kiện đó đã thúc đẩy nhiều thành viên Mafia hợp tác hơn, với kết quả là cuối những năm 1990, đã có hơn 1.000 cộng tác viên tư pháp. Ngày 15/3/1991 Quốc hội Italia đã thông qua Luật bảo vệ nhân chứng và có hiệu lực tháng 1/2001[4]. Như vậy việc quy định bảo vệ người làm chứng được các nước xây dựng và thực thi từ những năm 70, 80 của thế kỷ 20. Các quy định này đều được ghi nhận trong văn bản luật. Điều này cho thấy việc bảo vệ người làm chứng là một bộ phận quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự ở các nước.
        Ở Việt Nam bảo vệ người làm chứng đã được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 bằng một nguyên tắc: “Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật”[5]. Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không quy định cụ thể như trên, chỉ quy định chung: “Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản”[6]. Nghĩa là người làm chứng cũng được Nhà nước bảo vệ như mọi công dân khác. Tại điểm b, Khoản 3, điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định người làm chứng có quyền: “Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa”.
        Luật An ninh quốc gia quy định: Các cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia có trách nhiệm “áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người cộng tác, người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia”[7].
        Pháp luật về phòng, chống tội phạm ma tuý đã quy định rõ ràng hơn về bảo vệ người làm chứng, cụ thể Luật Phòng, chống ma tuý năm 2000 đã quy định: Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý có nghĩa vụ “áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố giác, người làm chứng và người bị hại trong các vụ án về ma tuý”[8]. Nghị định số 99/2002/NĐ-CP ngày 27/11/2002 của Chính phủ đã quy định điều kiện, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý thuộc Công an nhân dân và đã dành riêng Chương VII để quy định về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại. Tiếp đó, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 09/2004/TT- BCA(V19) ngày 16/6/2004 hướng dẫn áp dụng một số biện pháp bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án về ma tuý.
        Ngoài ra, trong Luật Công an nhân dân năm 2014, về trách nhiệm và chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ Công an nhân dân đã khẳng định: “Nhà nước bảo vệ, giữ bí mật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ Công an nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm”[9].
        Như vậy, ở Việt Nam việc quy định bảo vệ người làm chứng khá muộn (từ những năm 2000 trở về sau) và chưa có sự thống nhất, chưa có luật riêng về bảo vệ người làm chứng, trừ lĩnh vực phòng, chống ma túy được quy định cụ thể[10], còn các lĩnh vực khác các quy định chỉ mới dừng lại ở nguyên tắc, thiếu hướng dẫn cụ thể, nhất là về các biện pháp bảo vệ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, lực lượng tiến hành bảo vệ, kinh phí để bảo vệ... Đây là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và xây dựng các kiến nghị để hoàn thiện pháp luật. Vì vậy trong thời gian tới, các cơ quan chức năng cần tiến hành một số nội dung sau:
        Một là, dựa trên những quy định sẳn có trong Thông tư số 09/2004/TT- BCA(V19) ngày 16/6/2004 về hướng dẫn áp dụng một số biện pháp bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án về ma tuý, tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh các quy định và nâng mức độ pháp lý thành nghị định của Chính phủ. Quan trọng nhất là cần mở rộng lĩnh vực áp dụng cho tất cả các lĩnh vực từ an ninh quốc gia, tội phạm xâm phạm trật tự an toàn xã hội, tội phạm kinh tế, ma túy, môi trường, tham nhũng... giai đoạn áp dụng là cả giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Về lâu dài, cần có luật riêng về bảo vệ người làm chứng, người bị hại, người tố giác (như các nước tiên tiến trên thế giới đã làm).
        Hai là, xác định rõ điều kiện làm phát sinh các biện pháp bảo vệ người làm chứng. Kể cả trong Thông tư 09/2004/ TT- BCA quy định còn chưa cụ thể và định tính: “Khi nhận được thông tin về yêu cầu cần bảo vệ, cơ quan chuyên trách có trách nhiệm khẩn trương thu thập các tài liệu cần thiết để kiểm tra về tính xác thực của nguồn tin, mức độ nguy hiểm thực tế đe doạ người được bảo vệ, phạm vi và đối tượng cần bảo vệ, dự kiến biện pháp bảo vệ, cân nhắc về điều kiện và khả năng đáp ứng của cơ quan Công an... để xác định phạm vi cần bảo vệ và quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phù hợp”10. Với quy định như trên thì như thế nào gọi là “mức độ nguy hiểm thực tế đe dọa người được bảo vệ”. Đây là vấn đề cần được quy định cụ thể mang tính định lượng.
        Ba là, cùng với quy định định lượng nguồn nguy hiểm thì tương ứng với các mức độ nguy hiểm đó buộc cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ người làm chứng tương ứng. Đồng thời, với từng biện pháp được áp dụng cần quy định rõ cơ quan cấp nào có thẩm quyền quyết định và áp dụng, hồ sơ cụ thể cho biện pháp đó, trình tự, quy trình tiến hành. Ngoài ra còn cần quy định rõ với trường hợp nào thì người làm chứng yêu cầu, trường hợp nào cơ quan tư pháp có quyền đơn phương áp dụng biện pháp cần thiết dù không có yêu cầu hay đồng ý của người làm chứng.

        ----------------------
        Tài liệu tham khảo
        Bộ Công an (2004), Thông tư số 09/2004/TT-BCA(V19) ngày 16/6/2004 về hướng dẫn áp dụng một số biện pháp bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án về ma tuý.
        2. Liên hiệp quốc (2000), Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
       3. Vụ Pháp chế (2014), Pháp luật Hoa Kỳ về các biện pháp điều tra đặc biệt (Người báo tin và hoạt động điều tra bí mật - Tài liệu hướng dẫn thực hành về pháp luật, chính sách và tố tụng - tác giả Dennis. Fitzgeranld, NXb CRC Pres, 2007), Hà Nội.
 

[1] Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia đã đàm phán và thông qua bởi nghị quyết Đại hội đồng 55/25 ngày 15 tháng 11 năm 2000 tại Palermo, Italia và có hiệu lực từ ngày 29 tháng 9 năm 2003
[2] Điều 24 của Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
[3].Vụ Pháp chế (2014), Pháp luật Hoa Kỳ về các biện pháp điều tra đặc biệt (Người báo tin và hoạt động điều tra bí mật - Tài liệu hướng dẫn thực hành về pháp luật, chính sách và tố tụng - tác giả Dennis. Fitzgeranld, Nxb CRC Pres,2007), Hà Nội, tr 247,248.
[4]Thực hành tốt cho bảo vệ nhân chứng trong tố tụng hình sự liên quan tội phạm có tổ chức (Good Practices for the Protection of Witnesses in Criminal Proceedings Involving Organized Crime) của Văn phòng Liên hiệp Quốc về phòng chống Ma túy và Tội phạm, tr19 – 13.
[5] Điều 7, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
[6] Điều 11, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
[7] Điểm h, khoản 1, Điều 24, Luật An ninh Quốc gia năm 2004
[8] Điểm e, khoản 1, Điều 13, Luật Phòng, chống ma túy năm 2000.
[9] Khoản 2, Điều 13, Luật Công an nhân dân năm 2014.
[10]  Thông tư số 09/2004/TT-BCA(V19) ngày 16/6/2004 về hướng dẫn áp dụng một số biện pháp bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án về ma tuý.
10 Mục 3, Thông tư 09/2006/TT-BCA.

Tác giả bài viết: Nguyễn Văn Tửng
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 116
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 08/CT-BYT
Tên: (Chỉ thị về giảm thiểu chất thải nhựa trong ngành Y tế)

Ngày BH: (29/07/2019)

Số: 582/QĐ-TTg
Tên: (Về việc phê duyệt Đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi ni lông khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020)

Ngày BH: (11/04/2013)

Số: 01/QĐ-BCĐTW
Tên: (QUYẾT ĐỊNH VỀ VIỆC BAN HÀNH PHƯƠNG ÁN TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở NĂM 2019)

Ngày BH: (15/08/2018)

Số: 772/QĐ-TTg
Tên: (QUYẾT ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở NĂM 2019)

Ngày BH: (26/06/2018)

Số: 491/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt điều chỉnh chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất răn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050)

Ngày BH: (07/05/2018)

Số: 1250/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030)

Ngày BH: (31/07/2013)

Số: 582/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định về việc phê duyệt đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi ni lông khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020)

Ngày BH: (11/04/2013)

Số: 25/CT-TTg
Tên: (CHỈ THỊ VỀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CẤP BÁCH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG)

Ngày BH: (31/08/2016)

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (15/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (29/01/2018)