Rss Feed

Tìm hiểu một số quy định của pháp luật Việt Nam trong công tác quản lý người nghiện ma túy tại cộng đồng

Đăng lúc: Thứ năm - 16/08/2018 21:24 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
Nội dung bài viết nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam đối với người nghiện ma túy, là cơ sở pháp lý quan trọng của lực lượng Công an cơ sở trong phòng ngừa tội phạm do người nghiện ma túy thực hiện, đồng thời xác định rõ lực lượng Công an cơ sở - chủ thể nòng cốt tiến hành công tác quản lý người nghiện ma túy tại địa phương, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm do người nghiện ma túy thực hiện trong thời gian tới.
        Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này1 và để phù hợp với xu thế chung của các nước trên thế giới trong công cuộc đấu tranh phòng chống và kiểm soát ma túy cũng như thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2009 tại Luật sửa đổi, bổ sung một [1] số điều của Bộ luật hình sự Quốc hội đã bãi bỏ Điều 199 quy định tội sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời coi người nghiện ma túy là những nạn nhân của tệ nạn xã hội, là bệnh nhân cần phải chữa trị, chỉ áp dụng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và đưa họ vào các cơ sở cai nghiện bắt buộc để chữa trị theo quy định của pháp luật.
        Để huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị vào cuộc đấu tranh phòng, chống ma túy, đặc biệt là trong công tác quản lý người nghiện ma túy tại cộng đồng, trên tinh thần gắn trách nhiệm và nghĩa vụ của các cấp, các ngành, các thành viên trong xã hội, ngày 9/12/2000 Luật phòng, chống ma túy đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua, quy định cụ thể về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma túy, kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống ma túy, cai nghiện ma túy đối với người nghiện ma túy. Ngày 20/6/2012, Quốc hội ban hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, tại điều 96 quy định cụ thể đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bao gồm: Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.
        Trên cơ sở những văn bản quy phạm pháp luật nêu trên của Quốc hội, Chính phủ và Bộ Công an đã ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫn việc thực hiện công tác quản lý người nghiện ma túy tại cộng đồng, cụ thể như:
        Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính, tại Điều 16 xác định rõ: Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc không áp dụng đối với người đang tham gia các chương trình cai nghiện ma túy tại cộng đồng theo quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy.
        Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP quy định trình tự, thủ tục và chế độ cai nghiện đối với người nghiện ma túy đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nghị định số 94/20 10/NĐ-CP ngày 09/9/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng quy định về trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng - đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn nơi người nghiện ma túy đang cư trú. Hình thức cai nghiện này được áp dụng đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi trở lên, tự giác khai báo và tự nguyện đăng ký cai nghiện tại gia đình hoặc tại cộng đồng trong trường hợp không có điều kiện cắt cơn tại gia đình.
        Để tạo điều kiện thuận lợi giúp người nghiện ma túy có cơ hội được điều trị lâu dài, bảo đảm an toàn, tiến tới giảm hoặc ngừng sử dụng ma túy, góp phần mang lại hiệu quả trong công tác quản lý người nghiện ma túy tại cộng đồng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2016/NĐ- CP ngày 01/7/2016 quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
        Để giám sát, quản lý, giáo dục người nghiện ma túy tại nơi cộng đồng, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, khắc phục các nguyên nhân và điều kiện dẫn đến vi phạm pháp luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP quy định đối tượng và thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Ngoài ra, để đảm bảo cho việc áp dụng, thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn có hiệu quả, đúng quy định của pháp luật thì Bộ Công an đã ban hành các thông tư hướng dẫn việc thực hiện cũng như các loại biểu mẫu tài liệu có trong hồ sơ, cụ thể như: Thông tư số 48/2014/TT-BCA ngày 17/10/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP; Thông tư số 42/2014/TT-BCA ngày 25/9/2014 quy định về biểu mẫu sử dụng trong Công an nhân dân khi áp dụng và thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
        Những quy định pháp luật nêu trên là cơ sở pháp lý quan trọng để lực lượng Công an cơ sở thực hiện có hiệu quả công tác quản lý người nghiện ma túy tại cộng đồng, góp phần phòng ngừa tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, giữ gìn trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Tuy nhiên, trong quá trình lực lượng Công an cơ sở áp dụng những quy định của pháp luật để quản lý, giáo dục người nghiện ma túy tại cộng đồng cũng phát sinh một số khó khăn, vướng mắc nhất định. Cụ thể như:
       - Khi lập hồ sơ đề nghị đối với người nghiện ma túy thì phải xác định tình trạng nghiện ma túy hiện tại của họ[2] và việc xác định tình trạng nghiện ma túy này cần có thời gian theo dõi từ 03 đến 05 ngày tùy theo loại ma túy mà người nghiện ma túy sử dụng[3] nhưng trong Luật Xử lý vi phạm hành chính không có quy định những đối tượng nghiện ma túy này thuộc diện phải tạm giữ theo thủ tục hành chính, không quy định cơ quan nào có trách nhiệm quản lý đối tượng trong thời gian chờ kết quả xác định của cơ quan y tế? Thẩm quyền tạm giữ? Tạm giữ ở đâu? do đó khó có thể xác định được tình trạng nghiện của người nghiện đúng quy trình, đạt kết quả chính xác.
       -Thực tế công tác cho thấy, việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người nghiện ma túy còn nhiều bất cập vì phần lớn các đối tượng này thường sống lang thang, vi phạm pháp luật ở nhiều địa phương khác nhau, trong khi đó Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 111/2013/NĐ-CP không quy định điều khoản bắt buộc cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải có trách nhiệm gửi hồ sơ xử phạt về địa phương - nơi người nghiện ma túy cư trú để theo dõi, quản lý.

        - Việc hướng dẫn các biểu mẫu sử dụng trong quá trình áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn giữa Thông tư số 42/2014/TT-BCA ngày 25/9/2014 của Bộ Công an và Thông tư số 20/2014/TT-BTP ngay 25/9/2014 của Bộ Tư pháp theo quy định của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ không thống nhất, đồng bộ, gây khó khăn, lúng túng cho lực lượng Công an cơ sở.
       -Người nghiện ma túy sau khi bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì phải lựa chọn hình thức cai nghiện tự nguyện tại gia đình hoặc cộng đồng hoặc tham gia chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định của pháp luật và phải cam kết về việc tự nguyện cai nghiện, điều trị nghiện[4]: Đây là yêu cầu khó khả thi, gia đình - người nhà thì không đủ sức răn đe, cảm hóa đối tượng, còn người có uy tín trong cộng đồng dân cư thường không nhiệt tình với công tác này, cơ sở y tế địa phương không trang bị đủ cơ sở vật chất như giường bệnh, thiếu cán bộ chuyên môn sâu về cai nghiện ma túy, do đó sẽ tác động xấu đến người nghiện ma túy khiến họ khó có thể từ bỏ được ma túy Về thời hạn áp dụng (đối với Nghị định số 111/2013/NĐ-CP từ 03 đến 06 tháng trong khi đó tại Nghị định 94/2010/NĐ-CP thì thời hạn từ 06 đến 12 tháng) có sự chồng chéo. Do đó, sau khi áp dụng xong Nghị định số 111/2013/ NĐ-CP mà người nghiện vẫn đang trong thời gian cai nghiện tại gia đình, cộng đồng và đối tượng tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì lực lượng Công an cơ sở không thể đưa đối tượng đi cai nghiện bắt buộc được vì trong hồ sơ đưa đối tượng đi cai nghiện bắt buộc quy định tại điểm đ và e của Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP phải có tài liệu chứng minh đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đồng thời phải có Giấy xác nhận hết thời gian cai nghiện ma túy tại gia đình hoặc cai nghiện ma túy tại cộng đồng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc tài liệu chứng minh bị đưa ra khỏi chương trình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
       Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc còn phức tạp, mất thời gian (nhanh nhất là 01 tháng): Qua nhiều cơ quan như Công an cấp xã, Công an cấp huyện, Phòng Tư pháp, Phòng Lao động thương binh và xã hội rồi mới đến Tòa án nhân dân cấp huyện. Việc mất nhiều thời gian vào quá trình lập hồ sơ đưa người nghiện ma túy đi cai nghiện bắt buộc này vô hình chung đi ngược lại với quan điểm xem người nghiện ma túy là người có bệnh của Nhà nước ta hiện nay cũng như quan điểm chữa bệnh của ngành Y tế là khi phát hiện bệnh thì phải tổ chức chữa bệnh sớm mới có hiệu quả.
        Qua những phân tích nêu trên, để góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm nói chung và tội phạm do người nghiện ma túy thực hiện nói riêng của lực lượng Công an cơ sở, đảm bảo giữ gìn trật tự an toàn xã hội tại địa bàn xã, phường, thị trấn, cần tiến hành các nội dung sau:
        Một là, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật cho lực lượng Công an cơ sở.
        Bộ Công an cần mở các lớp tổ chức tập huấn chuyên sâu cho cán bộ Công an cơ sở, nhất là số cán bộ làm công tác hướng dẫn, kiểm tra và cán bộ trực tiếp làm hồ sơ theo các Nghị định 111/2013/ NĐ-CP, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP, Nghị định số 94/2010/NĐ-CP; đồng thời ban hành thông tư hướng dẫn hồ sơ, biểu mẫu đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong việc thực hiện các nghị định.
        Hai là, hoàn thiện những quy định của pháp luật làm cơ sở pháp lý cho hoạt động phòng ngừa tội phạm do người nghiện ma túy thực hiện của lực lượng Công an cơ sở.
        Đối với người nghiện ma túy không có nơi cư trú nhất định: Trong quá trình lập hồ sơ và Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét quyết định, thay vì giao cho tổ chức xã hội quản lý thì đưa đối tượng vào lưu trú tạm thời tại các Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội cấp tỉnh.
        Có chế tài xử lý hành vi cố tình trốn tránh, không chịu hợp tác với cơ quan có thẩm quyền xét duyệt lập hồ sơ cai nghiện bắt buộc hoặc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Tài liệu trong Hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc: hoặc là đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc là chấp hành xong quyết định cai nghiện tại gia đình, cộng đồng, chứ không thể nào vừa có quyết định chấp hành xong biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn vừa có quyết định chấp hành xong cai nghiện tại gia đình, cộng đồng. Đồng thời, bỏ quy định việc đọc, nghiên cứu hồ sơ của đối tượng nghiện ma túy sau khi Công an cơ sở đã lập hồ sơ.
        Có quy định rõ ràng về thời gian xác định tình trạng nghiện ma túy của đối tượng và quy định biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính, thẩm quyền, thời gian tạm giữ tương ứng với thời gian chờ xác định được tình trạng nghiện của người nghiện ma túy (từ 03 đến 05 ngày). Thay đổi thời hạn cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng cho phù hợp với thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
        Ba là, duy trì thường xuyên chế độ thông tin báo cáo, sơ kết, tổng kết công tác phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm do người nghiện ma túy thực hiện của lực lượng Công an cơ sở.
        Đây là hoạt động báo cáo sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm theo chuyên đề, theo từng địa bàn, theo phạm vi trách nhiệm được giao. Nội dung báo cáo phải phản ánh đúng chuyên đề, sự phân công, phân cấp, đánh giá được thực trạng tình hình người nghiện ma túy, tình hình tội phạm nói chung và tội phạm do người nghiện ma túy thực hiện nói riêng. Chỉ rõ những nội dung đã làm được, những khiếm khuyết, nguyên nhân và phương hướng thực hiện tiếp theo. Các địa phương cần đánh giá tình hình vi phạm và tái phạm theo nội dung các Nghị định, nhất là những nghị định có liên quan đến người nghiện ma túy.
        Bên cạnh đó, đối với Bộ Y tế và UBND cấp tỉnh, cần tăng cường cơ sở vật chất và chất lượng công tác cai nghiện, điều trị cắt cơn của các cơ sở y tế tại địa phương đáp ứng yêu cầu chữa trị đối với người nghiện ma túy. Có chế độ chính sách, thù lao hợp lý đối với những cán bộ kiêm nhiệm hoạt động trong các tổ công tác cai nghiện tại địa phương, hỗ trợ kinh phí đưa người nghiện đi cắt cơn, giải độc tại các cơ sở cai nghiện, qua đó động viên, khuyến khích cán bộ địa phương trong thực hiện công tác quản lý, giáo dục, cảm hóa đối tượng là người nghiện ma túy tại cộng đồng dân cư.
        ---------------------
        Tài liệu tham khảo
        [1]    Bộ Công an (2014), Thông tư 42/ TT-BCA ngày 25/9/2014 quy định về biểu mẫu sử dụng trong Công an nhân dân khi áp dụng và thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
        2. Bộ Công an (2014), Thông tư 48/ TT-BCA ngày 17/10/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP.
        3. Chính phủ (2004), Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10/6/2004 quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh.
        4. Chính phủ (2010), Nghị định số 94/ NĐ-CP ngày 09/9/2010 quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng.
        5. Chính phủ (2013), Nghị định số 111/NĐ-CP ngày 30/9/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại xã, phường, thị trấn.
        6. Chính phủ (2013), Nghị định số221/ NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

 

[1] Khoản 1, Điều 2, Luật Phòng chống ma tuý năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2008).
[2] Khoản 2, Điều 11 Nghị định số 111/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
[3] Điều 5, Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BYT- BLĐTBXH-BCA quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy.
[4]  Điểm g, khoản 5, điều 18 của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sung tại khoản 11, điều 1 Nghị định 56/2016/NĐ-CP

Tác giả bài viết: Đào Công Chức
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số T6/2018
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (28/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (13/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)

Số: Chỉ thị số 14-CT/TW
Tên: (Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng)

Ngày BH: (18/07/2017)

Số: 1884/QyĐ-T48
Tên: (Quy định về văn hóa ứng xử của cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Trường Đại học CSND)

Ngày BH: (12/10/2017)

Số: 27/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân)

Ngày BH: (21/08/2017)

Số: 124/2015/NĐ-CP
Tên: (NGHỊ ĐỊNH SỐ 185/2013/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2013)

Ngày BH: (14/11/2013)