Rss Feed

Tìm hiểu một số điểm mới về chế định chiếm hữu trong Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015

Đăng lúc: Thứ năm - 29/03/2018 22:52 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
       Nhìn ở góc độ phát triển và hoàn thiện pháp luật dân sự thì BLDS 2005 đã hoàn thiện và có nhiều tiến bộ hơn so với BLDS 1995. Tuy nhiên, BLDS 2005 vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, các quan hệ dân sự ngày càng đa dạng và phức tạp nên việc BLDS 2015 ra đời là một tất yếu khách quan. Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 (BLDS 2015) được ban hành vào ngày 24/11/2015, có hiệu lực vào ngày 01/01/2017 có 689 điều, được bố cục thành 6 phần, 27 chương trong đó chế định về chiếm hữu được quy định tại chương XII, phần thứ hai gồm 7 điều, từ Điều 179 đến Điều 185.
          1. Điểm mới trong khái niệm “chiếm hữu”
          Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) thì quyền chiếm hữu là một trong ba quyền năng của quyền sở hữu tài sản và được định nghĩa cụ thể, rõ ràng tại Điều 182. Tuy nhiên, bản thân khái niệm “chiếm hữu tài sản”, mặc dù được sử dụng rất thường xuyên trong BLDS 2005, nhưng không được định nghĩa một cách cụ thể. Chúng ta chỉ có thể hiểu khái niệm này thông qua định nghĩa “quyền chiếm hữu”. Theo đó, “quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản”1, như vậy “chiếm hữu tài sản” là “nắm giữ, quản lý tài sản”. Khi một khái niệm được sử dụng thường xuyên và giữ vai trò quan trọng như “chiếm hữu tài sản” không được định nghĩa rõ ràng sẽ dễ dàng dẫn đến những tranh cãi và khó khăn trong áp dụng pháp luật.
          Mặt khác, trong vai trò một bộ phận cấu thành tất yếu của quyền sở hữu, quyền chiếm hữu được xem là kết quả của quyền sở hữu, có nghĩa là phải có quyền sở hữu thì mới phát sinh quyền chiếm hữu, quy định này không hợp lý đối với những trường hợp xuất phát từ tình trạng chiếm hữu hợp pháp của các chủ thể cho phép họ xác lập quyền sở hữu hợp pháp trong BLDS 2005 như các quy định: Xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu2; xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy3...
          Chính vì những lẽ đó, khái niệm “chiếm hữu tài sản” được nhà làm luật quy định và phân bố thành một chương riêng trong BLDS 2015 là Chương XII để giải quyết những vấn đề tồn tại này. Theo đó, khái niệm chiếm hữu tài sản được phân thành chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu4. Chiếm hữu của chủ sở hữu là việc chiếm hữu xuất phát từ quyền sở hữu đối với tài sản của sở hữu chủ, quyền chiếm hữu này là đương nhiên. Chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu là việc chiếm hữu được thực hiện bởi một cá nhân, pháp nhân không được coi là chủ sở hữu đối với tài sản và việc chiếm hữu này phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu cũng như quy định của pháp luật. Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ xác lập quyền sở hữu trừ một số trường hợp quy định cụ thể bởi Bộ luật5.
          Đặc biệt, bản thân khái niệm “chiếm hữu tài sản” cũng có sự thay đổi mang tính cốt lõi. So với Điều 182 BLDS 2005, thuật ngữ “quản lý” đã được thay bằng thuật ngữ “chi phối”. Với sự thay đổi này, phạm vi của “chiếm hữu tài sản” đã được mở rộng hơn khi thuật ngữ “chi phối” có hàm nghĩa rộng hơn thuật ngữ “quản lý” tài sản. Tuy nhiên, thay đổi này chỉ mang tính chất đưa thực tiễn áp dụng pháp luật vào pháp luật thành văn khi Tòa án Nhân dân tối cao đã theo hướng này khi áp dụng BLDS 2005, đặc biệt trong giải thích các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cụ thể, Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 07 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có nêu ra một ví dụ để hướng dẫn áp dụng như sau: “A là chủ sở hữu xe ôtô đã giao xe ôtô đó cho B. B lái xe ôtô tham gia giao thông đã gây ra tai nạn và gây thiệt hại thì cần phải phân biệt nếu B chỉ được A thuê lái xe ôtô và được trả tiền công, có nghĩa B không phải là người chiếm hữu, sử dụng xe ôtô đó mà A vẫn chiếm hữu, sử dụng; do đó, A phải bồi thường thiệt hại...”. Theo đó ta có thể nhận thấy rằng A mặc dù không trực tiếp quản lý tài sản tuy nhiên vẫn chi phối tài sản ở cấp độ cao hơn, vẫn được xem là đang thực hiện “chiếm hữu” và do đó, vẫn phải chịu trách nhiệm với thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
          Ngoài ra, việc thay đổi thuật ngữ “quản lý” bằng thuật ngữ “chi phối” không phải là điểm khác biệt duy nhất. BLDS 2015 còn quy định “chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản”6. Vậy như thế nào là chiếm hữu như chủ thể có quyền đối với tài sản? Việc chiếm hữu trước tiên là quyền của chủ sở hữu xuất phát từ quyền sở hữu tài sản, bên cạnh đó, những chủ thể khác cũng có thể có quyền chiếm hữu thông qua các giao dịch dân sự hợp pháp như uỷ quyền quản lý tài sản, chuyển giao quyền chiếm hữu không đi kèm với chuyển giao quyền sở hữu. Chính vì vậy, chủ thể có quyền trong quy định này bao gồm chủ sở hữu và những chủ thể khác có quyền chiếm hữu đối với tài sản theo những quy định của pháp luật. Cách quy định này đã mở rộng phạm vi chủ thể chiếm hữu tài sản và phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật hơn so với BLDS 2005.
          2. Điểm mới trong quy định các hình thức chiếm hữu
          Một điều đáng ghi nhận nữa là trong chương về quyền chiếm hữu, BLDS 2015 đã quy định rõ thế nào là chiếm hữu ngay tình và như thế nào là chiếm hữu không ngay tình. So với BLDS 2005 chỉ quy định chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình thì BLDS 2015 đã định nghĩa như thế nào là chiếm hữu ngay tình và chiếm hữu không ngay tình.Quy định như trên vừa mang tính khoa học cao vừa phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật.
          Về chiếm hữu ngay tình, khái niệm chiếm hữu ngay tình đã được đề cập đến trong BLDS 1995 và BLDS 2005 dưới tên gọi “chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình”7. Cụ thể, Điều 195 BLDS 1995 và Điều 189 BLDS 2005 giữ nguyên có quy định như sau: “Người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật”. Hiện nay, khái niệm này được BLDS 2015 quy định khác, ở chỗ: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu”. So sánh hai định nghĩa này, ta có thể thấy những điểm khác biệt cơ bản như sau:
          Thứ nhất, ở các Bộ luật Dân sự trước đây, khái niệm chiếm hữu ngay tình gắn liền với yếu tố “không có căn cứ pháp luật”, điều này có nghĩa khi xem xét một hành vi chiếm hữu là ngay tình hay không phải xem xét hành vi chiếm hữu đó có phải là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật hay không. Tức muốn được xem là chiếm hữu ngay tình phải thoả hai yêu cầu: chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và ngay tình. Đến BLDS 2015, khái niệm “chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình” được định nghĩa lại là “chiếm hữu ngay tình”. Tức nghĩa rằng, chiếm hữu ngay tình trước hết là “chiếm hữu”, không đặt vấn đề việc chiếm hữu này có căn cứ pháp luật theo định nghĩa tại Điều 165 BLDS 2015 hay không mà chỉ căn cứ vào tiêu chí ngay tình. Sự điều chỉnh này trước hết nhằm tránh việc bỏ sót những trường hợp chiếm hữu ngay tình. Mặt khác, khái niệm chiếm hữu ngay tình được quy định như hiện tại nhằm phù hợp với việc xây dựng khái niệm “chiếm hữu” thành một chương riêng biệt, tách biệt với quyền sở hữu, được xem như một quyền năng của chủ thể đối với tài sản.
          Thứ hai, ở các bộ luật Dân sự trước đây, khái niệm chiếm hữu ngay tình chỉ việc chiếm hữu mà chủ thể “không biết hoặc không thể biết” việc chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật. Như vậy, theo các bộ luật cũ, một người muốn chứng minh rằng mình thực hiện việc chiếm hữu ngay tình, ngoài việc hành vi chiếm hữu đó phải là hành vi chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, phải chứng minh rằng mình “không biết hoặc không thể biết” việc chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật. Quy định này ở BLDS 2015 đã có sự đổi khác. Một người được xem là chiếm hữu ngay tình phải chứng minh “có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu”8 thì việc chiếm hữu đó mới ngay tình.
          Về chiếm hữu không ngay tình, đây là khái niệm mới được đưa vào BLDS 2015. Tất nhiên một người không chiếm hữu ngay tình chưa chắc chắn rằng sẽ chiếm hữu không ngay tình, do đó việc không định nghĩa “chiếm hữu không ngay tình” có thể xem là một thiếu sót lớn. Khắc phục vấn đề này, khái niệm “chiếm hữu không ngay tình” được BLDS 2015 quy định như sau: Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu”9. Như vậy, khái niệm “chiếm hữu ngay tình” và “chiếm hữu không ngay tình” được quy định khác nhau và không phủ định lẫn nhau khi mà tiêu chí của hai khái niệm không cùng loại. Do đó sẽ có thể xảy đến trường hợp việc chiếm hữu của một người không thỏa mãn tiêu chí để xem là “chiếm hữu ngay tình” theo Điều 180 BLDS 2015, mặt khác cũng không thỏa mãn tiêu chí để xác định là “chiếm hữu không ngay tình” theo Điều 181 BLDS 2015.
          3. Suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu
          Một thay đổi rất đáng chú ý nữa của BLDS 2015 xoay quanh vấn đề “chiếm hữu tài sản” đó là nhà làm luật đã lần đầu tiên đưa vào Bộ luật quy định về “Suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu”. Quy định này mới hoàn toàn so với các Bộ luật cũ và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. “Suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu” trong pháp luật dân sự áp dụng phương pháp tiếp cận tương đồng với “suy đoán vô tội” trong pháp luật hình sự, theo đó “người chiếm hữu được suy đoán là ngay tình; người nào cho rằng người chiếm hữu không ngay tình thì phải chứng minh. Trường hợp có tranh chấp về quyền đối với tài sản thì người chiếm hữu được suy đoán là người có quyền đó. Người có tranh chấp với người chiếm hữu phải chứng minh về việc người chiếm hữu không có quyền”10. Theo nhận định của người viết, quy định mới này có thể tạo nên hai tác động tích cực đến hoạt động áp dụng pháp luật trong giải quyết xung đột.
          Thứ nhất, khi có tranh chấp về tài sản xảy ra giữa hai chủ thể, “người chiếm hữu” từ nay được hưởng quyền suy đoán là ngay tình và người phản kháng lại sự chiếm hữu này phải chứng minh điều ngược lại.
          Thứ hai, quy định này đáp ứng với thực tế khi một “người chiếm hữu” chỉ cần bảo vệ quyền lợi của mình đối với tài sản đang tranh chấp, ngoài ra cũng nhằm giải quyết tranh chấp về chiếm hữu tài sản một cách hòa bình, trên cơ sở tôn trọng pháp luật.
          Việc suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu được áp dụng đối với chủ thể là “người chiếm hữu” nên để áp dụng quy định này, người có liên quan phải đáp ứng các tiêu chí của một “người chiếm hữu” mà cụ thể phải là “chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản”11. Theo đó, người có liên quan cần phải chứng minh hai tiêu chí. Thứ nhất, họ phải là người “nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp” và thứ hai, việc nắm giữ và chi phối tài sản này phải có tính chất “như chủ thể có quyền đối với tài sản”. Ngoài vấn đề tiêu chí đối với chủ thể thì việc nắm giữ, chi phối tài sản phải đáp ứng điều kiện công khai và liên tục. Bởi lẽ, BLDS 2015 quy định “việc chiếm hữu không liên tục không được coi là căn cứ để suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu được quy định tại Điều 184 của Bộ luật này”12 và “việc chiếm hữu không công khai không được coi là căn cứ để suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu được quy định tại Điều 184 của Bộ luật này”13.
          4. Bảo vệ việc chiếm hữu
          “Bảo vệ việc chiếm hữu” cũng là một quy phạm hoàn toàn mới được đưa vào Bộ luật Dân sự khi so sánh tương quan với các Bộ luật cũ tuy nhiên về bản chất không hề mới. Mục tiêu của quy định này là nhằm bảo vệ quyền chiếm hữu của chủ thể đang nắm giữ việc chiếm hữu. Quy định tương tự đã được ghi nhận ở Điều 255 BLDS 2005 với nội dung: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Như vậy, theo pháp luật dân sự từ trước đến nay, người chiếm hữu tài sản cũng được ghi nhận quyền được đòi trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Có chăng, quy định “Bảo vệ việc chiếm hữu” quy định chi tiết hơn và chỉ định rõ rằng người nắm giữ việc chiếm hữu phải là “người chiếm hữu”, tức là “chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản” như những quy định tương ứng của chương này.
          Tóm lại, chế định “chiếm hữu tài sản” ở BLDS 2015 có rất nhiều khác biệt so với các Bộ luật trước đây và việc chế định này được dành hẳn một chương riêng tại Chương XII càng làm rõ hơn điều đó. Với những bổ sung, sửa đổi này đã góp phần hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật dân sự và tạo một hành lang pháp lý vững chắc về chiếm hữu nói riêng về quyền sở hữu nói chung.
          Bằng việc BLDS 2015 quy định rõ ràng, cụ thể thế nào là chiếm hữu và những vấn đề liên quan đến chiếm hữu đã mang lại nhiều ý nghĩa nhất định, đặc biệt đối với lực lượng Cảnh sát nhân dân chúng ta. Xuất phát từ việc hiểu và nắm được như thế nào là chiếm hữu chúng ta có thể xác định được việc chiếm hữu là có hợp pháp hay không, một hành vi chiếm hữu là có ngay tình hay không, từ đó áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đảm bảo công bằng xã hội. Chế định chiếm hữu là cơ sở pháp lý để những người thực thi pháp luật xử lý những tranh chấp về quyền sở hữu nói chung, quyền chiếm hữu nói riêng. Không những thế, nó còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định một hành vi là có cấu thành một tội phạm xâm phạm quyền sở hữu hay không và có ý nghĩa trong việc xác định tội phạm ở giai đoạn nào, hoàn thành hay chưa hoàn thành được quy định tại Chương XIV Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009), tiếp đến là Bộ luật Hình sự 2015, Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự 2015. Từ đó, chúng ta thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nghiên cứu và nắm vững chế định này.
Tác giả bài viết: Lê Thị Huyền Trân
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 96 (tháng 11/2017)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (28/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (13/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)

Số: Chỉ thị số 14-CT/TW
Tên: (Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng)

Ngày BH: (18/07/2017)

Số: 1884/QyĐ-T48
Tên: (Quy định về văn hóa ứng xử của cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Trường Đại học CSND)

Ngày BH: (12/10/2017)

Số: 27/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân)

Ngày BH: (21/08/2017)

Số: 124/2015/NĐ-CP
Tên: (NGHỊ ĐỊNH SỐ 185/2013/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2013)

Ngày BH: (14/11/2013)