Rss Feed

Những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Đăng lúc: Thứ năm - 14/02/2019 09:17 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
         “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” là biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 110 Bộ luật TTHS năm 2015. Biện pháp này thay thế cho biện pháp “Bắt người trong trường hợp khẩn cấp” được quy định tại Điều 81 Bộ luật TTHS năm 2003. Theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 thì trong các trường hợp bắt khẩn cấp, các cơ quan có thẩm quyền được phép bắt người trước, sau đó mới gửi hồ sơ, thủ tục sang để đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt. Tuy nhiên, Khoản 2, Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát” nên việc tiếp tục giữ nguyên quy định về biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp sẽ không đảm bảo được quy định của Hiến pháp năm 2013. Vì vậy, việc Bộ luật TTHS năm 2015 quy định biện pháp “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” thay cho biện pháp “Bắt người trong trường hợp khẩn cấp” là phù hợp. Đây là biện pháp ngăn chặn quan trọng, tác động trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, do đó trong hoạt động điều tra, khi áp dụng biện pháp này các cơ quan chức năng cần đảm bảo những vấn đề cơ bản sau:
          - Về căn cứ áp dụng “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp”. Khoản 1 Điều 110 quy định 3 trường hợp đó là: “Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ”1. Như vậy, Bộ luật TTHS năm 2015 tiếp tục kế thừa các quy định về căn cứ áp dụng biện pháp “Bắt người trong trường hợp khẩn cấp” như quy định của Bộ luật TTHS năm 2003, tuy nhiên xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, Bộ luật TTHS năm 2015 đã bổ sung thêm các nội dung là sự xác nhận của người cùng thực hiện tội phạm, và việc phát hiện dấu vết tội phạm tại nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm là những căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn này.
         - Về thẩm quyền ra lệnh “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp”. Khoản 2 Điều 110 quy định những người có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp gồm: “Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc Trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng”2.
       - Về trình tự, thủ tục. Khoản 3 Điều 110 Bộ luật TTHS quy định: “Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người”3.
          Khoản 4 Điều 110 quy định: “Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.
        Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm c khoản 2 Điều này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn”4.
          Khoản 5 Điều 110 quy định về hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp gồm: “Văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định tạm giữ; Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp”5.
        Bộ luật TTHS năm 2015 quy định biện pháp “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” đã phản ánh rõ nét sự tiến bộ về mặt nhận thức cũng như kỹ thuật lập pháp của các nhà làm luật. Những vấn đề sửa đổi, bổ sung quan trọng về căn cứ, thẩm quyền và trình tự, thủ tục có ý nghĩa to lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, qua nghiên cứu nội dung của Điều 110 Bộ luật TTHS năm 2015 về biện pháp “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” và những điều luật khác có liên quan và tìm hiểu thực tiễn áp dụng biện pháp này thấy có những khó khăn, vướng măc sau đây:
        Bộ luật TTHS năm 2015 quy định về vấn đề này chưa thật sự chặt chẽ và thiếu sự thống nhất ở một số nội dung cụ thể sau:
          Một là, không quy định thống nhất về trình tự, thủ tục tiến hành biện pháp này và các biện pháp tiếp theo. Điều 109 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: “Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ”6. Các điều luật sau đó quy định cụ thể về biện pháp bắt người như bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam nhưng lại không có điều luật nào quy định cụ thể về biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt người trong trường hợp này được đề cập đến trong nội dung của Khoản 4, Điều 110 đó là sau khi giữ người, cơ quan có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, và trong vòng 12 giờ “phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó”. Bên cạnh đó, Khoản 1, Điều 117 quy định về biện pháp tạm giữ như sau: “Tạm giữ có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.”7. Như vậy, dẫn đến việc nhận thức khác nhau là sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp là sẽ tạm giữ hay là bắt rồi mới tạm giữ.
          Hai là, không quy định về việc dùng vũ lực để thực hiện biện pháp giữ người và nơi giữ người. Khi cơ quan điều tra áp dụng biện pháp này mà người bị giữ không chấp hành, thậm chí có hành vi chống trả thì lực lượng tiến hành được dùng vũ lực đến mức độ nào để thực hiện chưa được quy định cụ thể, rõ ràng. Ngoài ra, luật cũng không quy định về địa điểm giữ người nên quá trình thực hiện gặp khó khăn, lúng túng.
          Ba là, việc khám người bị giữ để tước vũ khí, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án. Bộ luật TTHS năm 2003 và Bộ luật TTHS năm 2015 đều quy định “có thể tiến hành khám người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người”[1]. Tuy nhiên, trước đây luật quy định là bắt người trong trường hợp khẩn cấp nên ngay sau khi bắt, lực lượng bắt có quyền khám xét người để tước vũ khí và thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan, còn hiện nay biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp khác với biện pháp bắt nên lực lượng thi hành không được phép khám xét người bị giữ, muốn khám người bị giữ phải có lệnh của người có thẩm quyền.
        Chính từ những khó khăn, vướng mắc nêu trên dẫn đến việc thực hiện biện pháp “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” và tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trong thực tế ở các đơn vị, địa phương không có sự thống nhất. Qua nghiên cứu thực tiễn áp dụng cho thấy rằng ở các đơn vị, địa phương hiện tại có 3 cách tiến hành biện pháp này như sau:
          Thứ nhất, sau khi giữ người, Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ, đưa người bị giữ vào nhà tạm giữ, trại tạm giam rồi ra lệnh bắt người bị giữ, sau đó gửi toàn bộ hồ sơ cho Viện kiểm sát, sau khi Viện kiểm sát phê chuẩn thì trích xuất người bị tạm giữ ra để thực hiện việc bắt người rồi lại đưa vào để tạm giữ.
          Thứ hai, sau khi giữ người, cơ quan điều tra ra lệnh bắt, quyết định tạm giữ rồi chuyển toàn bộ hồ sơ cho Viện kiểm sát phê chuẩn. Sau khi nhận được phê chuẩn của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra tiến hành thủ tục thi hành lệnh bắt rồi đưa người bị bắt vào nhà tạm giữ, trại tạm giam để tạm giữ.
          Thứ ba, sau khi giữ người, Cơ quan điều tra ra lệnh bắt người bị giữ và gửi cho Viện kiểm sát phê chuẩn, sau khi Viện kiểm sát phê chuẩn thì Cơ quan điều tra tiến hành thực hiện lệnh bắt, sau đó ra quyết định tạm giữ và tiếp tục gửi quyết định tạm giữ và hồ sơ cho Viện kiểm sát để Viện kiểm sát phê chuẩn việc tạm giữ.
        Ngoài ra, cách tính thời hạn tạm giữ sau khi giữ người cũng có sự thống nhất. Sau 12 giờ từ khi giữ người, cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định trả tự do hoặc tạm giữ. Trong trường hợp tạm giữ thì thời hạn tạm giữ được tính như thế nào cũng không có sự thống nhất. Một số đơn vị, địa phương tính thời hạn tạm giữ từ khi bắt đầu giữ người nhưng cũng có đơn vị, địa phương khác lại tính thời hạn từ thời điểm tạm giữ, tức là sau khi giữ người 12 giờ.
        Như vậy, cùng một biện pháp nhưng cách thức thực hiện và trình tự thủ tục ở các đơn vị, địa phương lại khác nhau, điều đó làm ảnh hưởng đến việc vận dụng pháp luật trong thực tế. Để đảm bảo việc áp dụng thống nhất biện pháp này, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay, theo tôi cần thực hiện những vấn đề sau đây:
        Trước hết, liên ngành tư pháp Trung ương (Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao) cần ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn việc áp dụng biện pháp “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp”. Trong đó, cần thống nhất là trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai ngay, sau đó nếu có đủ căn cứ thì ra lệnh bắt, quyết định tạm giữ và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp đề nghị phê chuẩn, nếu Viển kiểm sát không phê chuẩn thì phải trả tự do ngay cho người bị giữ.
        Bên cạnh đó, cũng cần có hướng dẫn cụ thể về nơi giữ người và cách tính thời hạn tạm giữ sau khi giữ người, hướng dẫn về việc sử dụng vũ lực trong trường hợp người bị giữ không chấp hành lệnh hoặc chống đối.
        Sau đó, cần sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS năm 2015 theo hướng bổ sung thêm điều luật quy định về biện pháp “Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” với trình tự, thủ tục như đã nêu trên; đồng thời, tại Khoản 3, Điều 194 Bộ luật TTHS cần bổ sung trường hợp được khám người không cần lệnh khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp để tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng chức năng khi tiến hành biện pháp này.
        Ngoài ra, qua thời gian triển khai thực hiện cho thấy ngoài những nội dung mới, tiến bộ thì Bộ luật TTHS năm 2015 cũng đã bộc lộ một số vướng mắc khi được áp dụng vào thực tế. Do đó, trong thời gian tới cần có sự rà soát để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Một trong những nội dung cần sửa đổi bổ sung là những vấn đề liên quan đến biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp như đã trình bày nêu trên.
        Tóm lại, Bộ luật TTHS năm 2015 quy định biện pháp ngăn chặn “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” đã phản ánh rõ nét sự tiến bộ về mặt nhận thức cũng như kỹ thuật lập pháp của các nhà làm luật. Những thay đổi quan trọng về căn cứ, thẩm quyền và trình tự, thủ tục áp dụng có ý nghĩa, vai trò to lớn trong công tác đất tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng đã bộc lộ những thiếu sót dẫn đến quá trình thực hiện gặp khó khăn, vướng mắc. Những vấn đề hạn chế này cần được điều chỉnh kịp thời để phát huy hết hiệu quả của biện pháp này.
        ------------------------ 
          Tài liệu tham khảo
          [1] Quốc hội (2003), Bộ luật hình sự năm 2003.
          2. Quốc hội (2017), Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
         3. Quốc hội (2015), Bộ luật TTHS năm 2015.
          4. Quốc hội (2015), Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.
         5. Vụ pháp chế, Bộ Công an (2017), Tài liệu tập huấn Bộ luật hình sự, Bộ luật TTHS.
          6. Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
        7. https://vienkiemsathanam.gov.vn/ index.php/vi/news/Kiem-Sat-Vien-Viet 9/Mot-so-luu-y-ve-bien-phap-ngan- chan-Giu-nguoi-trong-truong-hop- khan-cap-trong -Bo-luat-to-tung-hinh- su-nam-2015-733/.

[1] Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, 2015.

Tác giả bài viết: Nguyễn Tất Thắng
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 110 tháng 11/2018
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 01/QĐ-BCĐTW
Tên: (QUYẾT ĐỊNH VỀ VIỆC BAN HÀNH PHƯƠNG ÁN TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở NĂM 2019)

Ngày BH: (15/08/2018)

Số: 772/QĐ-TTg
Tên: (QUYẾT ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở NĂM 2019)

Ngày BH: (26/06/2018)

Số: 491/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt điều chỉnh chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất răn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050)

Ngày BH: (07/05/2018)

Số: 1250/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030)

Ngày BH: (31/07/2013)

Số: 582/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định về việc phê duyệt đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi ni lông khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020)

Ngày BH: (11/04/2013)

Số: 25/CT-TTg
Tên: (CHỈ THỊ VỀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CẤP BÁCH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG)

Ngày BH: (31/08/2016)

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (15/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (29/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (20/06/2017)