Rss Feed

Những điểm mới về chế độ tạm giữ, tạm giam được quy định trong luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015

Đăng lúc: Thứ hai - 22/10/2018 23:15 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 trên cơ sở kế thừa những nội dung cơ bản của Nghị định 89/1998/NĐ-CP ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam đã sửa đổi, bổ sung một số điểm mới về chế độ tạm giữ, tạm giam. Vì vậy, việc nghiên cứu những điểm mới cơ bản về chế độ tạm giữ, tạm giam trong Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động giảng dạy và thực tiễn công tác.
          Ngày 25/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật thi hành tạm giữ, tạm giam. Luật thi hành tạm giữ, tạm giam gồm 11 chương, 73 điều và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018. Riêng chế độ tạm giữ, tạm giam được quy định tại 22 điều luật, cụ thể tại các chương như: Chương III - Chế độ quản lý giam giữ gồm 11 điều (từ Điều 16 đến Điều 26); Chương IV - Chế độ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam gồm 05 điều (từ Điều 27 đến Điều 31); Chương V - Chế độ đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi gồm 04 điều (từ Điều 32 đến Điều 35); Chương VI - Chế độ đối với người bị kết án tử hình đang bị tạm giam. Nghiên cứu nội dung chế độ tạm giữ, tạm giam trong Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 cho thấy, so với Nghị định 89/1998/NĐ-CP ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam và Nghị định 98/2002/NĐ-CP sửa đối một số điều của Quy chế về tạm giữ, tạm giam có một số điểm mới được bổ sung, sửa đổi, cụ thể như:
          1. Về tiếp nhận, hồ sơ quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam
          Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung thẩm quyền của Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam thành thẩm quyền của nhà tạm giữ, trại tạm giam. Đồng thời bổ sung quy định về trách nhiệm của Thủ trưởng cơ sở giam giữ khi tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam đó là: “Tổ chức khám sức khoẻ, kiểm tra thân thể của trẻ em dưới 36 tháng tuổi đi theo (nếu có); phổ biến, hướng dẫn, giải thích quyền, nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam”[1]. Bên cạnh đó, nội dung tại Điều 16 và Điều 17 trong Luật thi hành tạm giữ, tạm giam đã quy định đầy đủ, cụ thể về quy trình tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam, hồ sơ quản lý tạm giữ, tạm giam. Đây là quy định tiến bộ, làm cơ sở cho nhà tạm giữ, trại tạm giam thực hiện việc quản lý, giam giữ người bị tạm giữ, người bị tạm giam đúng pháp luật, phục vụ tốt cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
        2. Về phân loại người bị tạm giữ, người bị tạm giam để quản lý
          Nghị định 89/1998/NĐ-CP ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam và Nghị định 98/2002/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Quy chế về tạm giữ, tạm giam chưa quy định đầy đủ về đối tượng được phân loại quản lý, bố trí theo khu, chỉ quy định 08 diện đối tượng được phân loại quản lý đó là: “Phụ nữ; người chưa thành niên; người nước ngoài; người có bệnh truyền nhiễm nguy hiểm; loại côn đồ hung hãn, giết người, cướp tài sản, tái phạm nguy hiểm; người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia; người bị Toà án tuyên phạt tử hình; người có án phạt tù chờ chuyển đi Trại giam”2. Tuy nhiên, qua thực tiễn thực hiện tại một số địa phương cho thấy buồng tạm giữ, buồng tạm giam trong các cơ sở giam giữ của Công an các tỉnh có số lượng phòng hạn chế, trong khi đó một số vụ án có số người bị tạm giữ, tạm giam đông thì việc quy định không tạm giữ, tạm giam chung những người trong cùng một vụ án trong mọi trường hợp là rất khó khả thi. Ngoài ra, để kiểm soát hành vi của người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người chưa thành niên tránh việc họ tự sát hoặc tự gây thương tích cho bản thân thì Nhà tạm giữ, Trại tạm giam cần thiết bố trí một đến hai người đã thành niên chấp hành tốt kỷ luật, nội quy tạm giữ, tạm giam cùng sinh hoạt với họ.
          Vì vậy, để tháo gỡ những vướng mắc trong điều kiện thực tế hiện nay tại các nhà tạm giữ, trại tạm giam không thể tiến hành giam riêng, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam đã pháp điển hoá nội dung: “Trong trường hợp đặc biệt, do điều kiện thực tế mà nhà tạm giữ, trại tạm giam không thể đáp ứng được yêu cầu giam giữ riêng hoặc để bảo đảm yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử, bảo đảm an toàn cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam thì Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam, Trưởng buồng tạm giữ đồn biên phòng phối hợp với cơ quan đang thụ lý vụ án quyết định bằng văn bản những người được giam giữ chung”3. Tại khoản 4 Điều 18 quy định những trường hợp có thể được bố trí giam giữ ở buồng riêng bao gồm: Người đồng tính, người chuyển giới; người quy định tại các điểm e, i và m khoản 1 Điều này; phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng. Điều luật dùng thuật ngữ “có thể” để người đứng đầu các cơ sở giam giữ căn cứ vào điều kiện công trình giam giữ hiện có và tính chất, mức độ của đối tượng quản lý để cân nhắc, quyết định có giam giữ riêng hay không, nhằm đảm bảo sự linh hoạt trong từng trường hợp cụ thể.
          Bên cạnh đó, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đã kế thừa các quy định cũ, pháp điển hóa và bổ sung mới 04 đối tượng trong 12 đối tượng được phân loại quản lý, bố trí theo khu đó là: “Người bị tạm giữ”; “người bị tạm giam”; “người thường xuyên vi phạm nội quy của cơ sở giam giữ” và “người có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình nhưng chưa được giám định, đang chờ kết quả giám định hoặc đang chờ đưa đi cơ sở bắt buộc chữa bệnh”[2] [3]. Đây là quy định tiến bộ, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn công tác quản lý, giam giữ người bị tạm giữ, người bị tạm giam.
          3. Về chế độ thăm gặp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam
          Quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định 89/1998/NĐ- CP quy định người bị tạm giữ, người bị tạm giam chỉ được thăm gặp thân nhân nếu được cơ quan thụ lý vụ án đồng ý. Điều này dẫn tới trong nhiều trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam không được gặp thân nhân trong suốt thời gian bị tạm giữ, tạm giam. Vì vậy, khoản 1 Điều 22 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 bỏ quy định việc gặp thân nhân của người bị tạm giữ, người bị tạm giam phải được sự cho phép của cơ quan đang thụ lý vụ án và quy định cụ thể về số lần thăm gặp: người bị tạm giữ được gặp thân nhân một lần trong thời gian tạm giữ, một lần trong mỗi lần gia hạn tạm giữ. Người bị tạm giam được gặp thân nhân một lần trong một tháng...
          Ngoài ra đối với người bào chữa, tại khoản 3 Điều 22 quy định: Người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam để thực hiện bào chữa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật này tại buồng làm việc của cơ sở giam giữ hoặc nơi người bị tạm giữ, tạm giam đang khám bệnh, chữa bệnh; phải xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ về việc bào chữa. Về thẩm quyền giải quyết cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam thăm gặp thân nhân, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam cũng quy định rõ: “Thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định cụ thể thời điểm thăm gặp; thông báo cho cơ quan đang thụ lý vụ án về việc thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam”5. Bên cạnh đó tại khoản 1 Điều 22 quy định trường hợp tăng thêm số lần gặp hoặc người gặp không phải là thân nhân thì phải được cơ quan đang thụ lý vụ án đồng ý.
          4. Về kỷ luật người bị tạm giữ, người bị tạm giam
          Kế thừa quy định về hình thức kỷ luật tại Khoản 6 Điều 1 Nghị định 98/2002/ NĐ-CP ngày 27/11/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều về quy chế tạm giữ, tạm giam, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam đã tách hình thức kỷ luật người bị tạm giữ và hình thức kỷ luật người bị tạm giam. Theo đó, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị kỷ luật bằng một trong các hình thức sau đây: “Cảnh cáo; Cách ly ở buồng kỷ luật từ 01 ngày đến 02 ngày và có thể bị gia hạn đến 02 ngày đối với người bị tạm giữ; cách ly ở buồng kỷ luật từ 03 ngày đến 07 ngày và có thể bị gia hạn đến 10 ngày đối với người bị tạm giam. Thời hạn cách ly không quá thời hạn tạm giữ, tạm giam còn lại”[4]. Đồng thời, tại khoản 2 và khoản 3 Điều 23 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam quy định việc kỷ luật bằng hình thức cách ly được thực hiện nếu người bị tạm giữ, người bị tạm giam vi phạm nội quy của cơ sở giam giữ, chế độ quản lý giam giữ hai lần trở lên hoặc có các hành vi sau: Phá hủy cơ sở giam giữ, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cơ sở giam giữ; tổ chức trốn hoặc trốn khỏi nơi giam giữ; tổ chức trốn hoặc trốn khi đang bị áp giải; đánh tháo người bị tạm giữ, người bị tạm giam; thực hiện hoặc tổ chức, kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, giúp sức, che giấu, ép buộc người khác vi phạm pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; trả thù, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác trong thi hành tạm giữ, tạm giam.
          Trường hợp người bị cách ly ở buồng kỷ luật nếu có hành vi chống phá quyết liệt cơ sở giam giữ, tự sát, tự gây thương tích cho bản thân, xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác thì bị cùm một chân. Thời gian bị cùm chân do thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định.
          5. Về chế độ đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi
          Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã thay đổi cụm từ “người chưa thành niên” bằng cụm từ “người dưới 18 tuổi”. Vì vậy, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 lần đầu tiên đã bổ sung cụm từ “người dưới 18 tuổi” và quy định cụ thể về chế độ đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam dưới 18 tuổi. Cụ thể, tại khoản 1 và khoản 2 Điều 33 quy định: “Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng ăn như người bị tạm giữ, người bị tạm giam đã thành niên và được tăng thêm về thịt, cá nhưng không quá 20% so với định lượng; người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi được bố trí giam giữ riêng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 18 của Luật này”. Bên cạnh đó, tại Điều 34 về chế độ gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự của người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi quy định rõ: “Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự quy định tại Điều 22 của Luật này với số lần thăm gặp được tăng gấp đôi so với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người đủ 18 tuổi trở lên”. Đây là quy định tiến bộ và đảm bảo sự đồng nhất với Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
          6. Về chế độ đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi
          Trên cơ sở của nguyên tắc bảo đảm tính nhân đạo trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, tại Điều 35 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam quy định về chế độ ăn, ở và quản lý đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Cụ thể:
         - Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai được bố trí nơi ở hợp lý, được khám thai, được chăm sóc y tế, được hưởng chế độ ăn uống bảo đảm sức khỏe; nếu sinh con thì được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng ăn theo chỉ dẫn của y sĩ hoặc bác sĩ, được cấp thực phẩm, đồ dùng, thuốc men cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh, được bảo đảm thời gian cho con bú trong thời gian nuôi con bằng sữa mẹ. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm làm thủ tục đề nghị đăng ký khai sinh. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở giam giữ đóng trụ sở có trách nhiệm đăng ký và cấp giấy khai sinh. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 03 m2.
        - Cơ sở giam giữ phải tổ chức việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 36 tháng tuổi. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có con từ đủ 36 tháng tuổi trở lên thì phải gửi con về cho thân nhân nuôi dưỡng; trường hợp không có thân nhân nhận nuôi dưỡng thì thủ trưởng cơ sở giam giữ đề nghị Sở Lao động - Thương binh và xã hội nơi có cơ sở giam giữ chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam sau khi được trả tự do được nhận lại con đang được cơ sở bảo trợ xã hội nuôi dưỡng.
          - Chính phủ quy định chi tiết về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em dưới 36 tháng tuổi tại cơ sở giam giữ.
          Những quy định đối với phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi thể hiện tính nhân đạo sâu sắc, nhằm đảm bảo sức khoẻ của người mẹ và đảm bảo sự phát triển bình thường của thai nhi, trẻ em trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay.
          Tóm lại: Quy định về chế độ tạm giữ, tạm giam trong Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 đã có những kế thừa, bổ sung quan trọng, phù hợp với thực tiễn công tác, thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo trong quá trình xây dựng dự án luật.
          Chính vì vậy, các chủ thể nghiên cứu, áp dụng pháp luật cần nhận thức đúng đắn về những nội dung trên để triển khai trong thực tiễn công tác nhằm đảm bảo thực hiện tốt quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.
        ---------------
          Tài liệu tham khảo
          [1]. Chính phủ (1998), Nghị định 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam.
          2. Chính phủ (2017), Nghị định số 120/2017/NĐ-CP ngày 06/11/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam.
          3. Bộ Công an (2017), Thông tư số 33/2017/TT-BCA-C81 ngày 19/9/2017 quy định về tiếp nhận, quản lý giam giữ người bị tạm giữ, người bị tạm giam.
         4. Bộ Công an, Thông tư số 34/2017/ TT-BCA-C81 ngày 19/9/2017 quy định về việc tổ chức cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam gặp thân nhân; nhận quà, tiền; gửi, nhận thư, sách, báo, tài liệu.
         5. Quốc hội (2015), Luật thi hành tạm giữ, tạm giam.
 

[1] Khoản 2, khoản 4 Đièu 16 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015.
[2] Điểm l, m khoản 1 Điều 18 Luật thi hành tạm giữ,
tạm giam năm 2015.
[4] Khoản 1 Điều 23 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015.

Tác giả bài viết: Ngô Đức Việt – Trường Đại học CSND
Nguồn tin: *Bài viết được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số tháng 9/2018
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 491/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt điều chỉnh chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất răn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050)

Ngày BH: (06/05/2018)

Số: 1250/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030)

Ngày BH: (30/07/2013)

Số: 582/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định về việc phê duyệt đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi ni lông khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020)

Ngày BH: (10/04/2013)

Số: 25/CT-TTg
Tên: (CHỈ THỊ VỀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CẤP BÁCH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG)

Ngày BH: (30/08/2016)

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (28/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (13/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)