Rss Feed

Những điểm mới của quy định về biện pháp khám xét trong bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Đăng lúc: Chủ nhật - 14/10/2018 21:34 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
Trong bài viết tác giả giới thiệu, phân tích những điểm mới trong quy định về khám xét - một trong những điểm mới quan trọng của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Xuất phát từ những yêu cầu đặt ra đối với cơ quan, người có thẩm quyền trong quá trình điều tra và giải quyết các vụ án hình sự đảm bảo khách quan, toàn diện và đầy đủ, Cơ quan điều tra và Điều tra viên phải áp dụng nghiêm các quy định của pháp luật về các biện pháp điều tra trong đó có biện pháp khám xét.
          Ngày 17 tháng 11 năm 2015 tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa 13, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành luật số 101/2015/QH13 - Bộ luật Tố tụng hình sự. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã đáp ứng được các yêu cầu về cải cách tư pháp và cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn mới, do vậy có nhiều điểm mới so với Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trong đó có hoạt động về khám xét.
          Một là, về căn cứ, thẩm quyền khám xét
          Nghiên cứu quy định về căn cứ khám xét tại Điều 192, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho thấy:
          - Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.
          - Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử[1].
          Như vậy so với quy định tại Điều 140 của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 có điểm mới, đó là:
          Khi có căn cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành khám phương tiện, tài liệu, dữ liệu điện tử. Phương tiện, tài liệu là đối tượng của khám xét và được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể. Mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không quy định nhưng trên thực tế hoạt động khám xét phương tiện, tài liệu, dữ liệu điện tử vẫn được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành. Tuy nhiên việc phát hiện, thu giữ, quá trình phản ánh các thông tin có liên quan đến các đối tượng khám xét này và nhất là ra lệnh khám xét, tiến hành lập biên bản khám xét ở từng trường hợp cụ thể theo đúng quy định sẽ gặp nhiều khó khăn, không đảm bảo tính pháp lý.
          Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Cơ quan có thẩm quyền cần phải xác định dữ liệu điện tử ở đây chính là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác. Giá trị chứng minh của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác. Cho nên, người có thẩm quyền khi thu thập, bảo quản dữ liệu điện tử phải thực hiện theo đúng quy định pháp luật.
          Đối với thẩm quyền khám xét, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cơ bản giống như thẩm quyền khám xét của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức khám xét, nội dung thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có quy định cụ thể hơn như trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để Cơ quan Viện kiểm sát cử Kiểm sát viên tham gia, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Ngoài ra, trong mọi trường hợp khám xét đều phải lập biên bản theo đúng quy định. Vấn đề này, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không có quy định (Điều 141. Thẩm quyền ra lệnh khám xét: 1. Những người được quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét trong mọi trường hợp. Lệnh khám xét của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành; 2. Trong trường hợp không thể trì hoãn, những người được quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi khám xong, người ra lệnh khám phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp)[2].
          Hai là, về trình tự, thủ tục khám xét
          Đối với trình tự thủ tục khám xét người, về cơ bản Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã kế thừa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định về khám người như người thi hành lệnh phải đọc lệnh khám xét, giải thích quyền và nghĩa vụ cho người bị khám xét... Tuy nhiên Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể hơn về trường hợp khám xét người mà không cần có lệnh, đó là “Có thể tiến hành khám xét người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án”. Điều này nhằm đảm bảo tính chính xác, khách quan trong hoạt động điều tra, tránh việc thu giữ tràn lan những đồ vật không liên quan đến vụ án, thậm chí việc phát hiện thu giữ tài liệu ở nhiều vụ án hình sự dựa vào ý thức chủ quan của Điều tra viên (đồ vật, tài liệu cần thu giữ).
          Đối với trình tự thủ tục khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện được quy định tại Điều 195 của Bộ luật Tố tụng hình sự thay cho Điều 143 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Tại Điều 195 này, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cụ thể và đảm bảo tính đầy đủ, khoa học hơn như: thay “chỗ làm việc” thành “nơi làm việc” và bổ sung về trường hợp khám phương tiện mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không có quy định. Việc khám xét phương tiện phải có mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện và người chứng kiến. Trường hợp chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có hai người chứng kiến. Do đó, đây cũng là một trong những điểm mới về khám xét và là cơ sở quan trọng cho Điều tra viên tiến hành điều tra và giải quyết vụ án hình sự.
          Đối với vấn đề kê biên tài sản, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định tại Chương XII (Khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản) còn ở Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã tách nội dung này và đưa về Chương VII (Biện pháp ngăn chăn, biện pháp cưỡng chế). Đây không chỉ phản ánh đúng đắn về mặt nhận thức mà việc kê biên tài sản - một trong những biện pháp cưỡng chế là hoàn toàn phù hợp với hoạt động thực tiễn điều tra hiện nay khi người thực hiện hành vi phạm tội sử dụng nhiều phương thức thủ đoạn khác nhau, để lại nhiều hậu quả khác nhau.
          Ba là, về đối tượng của khám xét
          Việc xác định đối tượng khám xét là nhiệm vụ quan trọng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên để từ đó áp dụng các phương pháp và thủ thuật khám xét có hiệu quả cho từng trường hợp khám xét cụ thể, đặc biệt kết quả khám xét của từng trường hợp này luôn luôn đảm bảo tính pháp lý. Cho nên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định rõ ràng để các cơ quan tiến hành tố tụng vận dụng đúng đắn trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử.
          Trước đây, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định đối tượng khám xét là người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm hay việc thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan bưu điện. Ở Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định bổ sung đối tượng khám xét về phương tiện hay thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử. Chính vì vậy, khi tiến hành khám xét các phương tiện trong các vụ án hình sự hoặc tiến hành thu thu giữ các phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử, Điều tra viên có cơ sở phản ánh về đối tượng của khám xét, tiến hành lập biên bản, thu giữ tài liệu, vật chứng đảm bảo đúng quy định pháp luật.
          Bốn là, về nhiệm vụ của khám xét
          Trên cơ sở quy định về căn cứ, đối tượng, việc thu giữ, tạm giữ trong quá trình khám xét ở các Điều 192, 194, 195, 196, 197, 198 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xác định nhiệm vụ của khám xét: phát hiện công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án; phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân. Đối với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Cơ quan điều tra và Điều tra viên trong quá trình tổ chức khám xét thực hiện các nhiệm vụ, đó là phát hiện, thu thập những tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra; phát hiện những đồ vật, tài sản để kê biên để đảm bảo bồi thường thiệt hại, đồ vật thuộc loại cấm tàng trữ lưu hành; phát hiện những người đang có lệnh truy nã. Với những nhiệm vụ cụ thể đặt ra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 như vậy, trong thực tiễn Cơ quan điều tra về cơ bản đã giải quyết được vụ án, đảm bảo được các yêu cầu về khám xét. Nhưng với sự phát triển của xã hội, của khoa học công nghệ thông tin thì việc bổ sung nhiệm vụ khám xét là rất cần thiết nhằm phục vụ quá trình chứng minh sự thật vụ án. Vì vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã xác định, bổ sung nhiệm vụ của khám xét. Ngoài các nhiệm vụ đặt ra ở Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, thì nhiệm vụ của khám xét theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn phải phát hiện, thu thập đồ vật, dữ liệu điện tử, truy tìm và giải cứu nạn nhân. Đây cũng là một trong những điểm mới khi thực hiện nhiệm vụ khám xét. Cho nên Cơ quan điều tra và Điều tra viên cần xác định và giải quyết đầy đủ các nhiệm vụ của khám xét đặt ra.

        ------------------------
         Tài liệu tham khảo:
       
1. Cục pháp chế và Quản lý khoa học, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao (2015), “Giới thiệu một số nội dung của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết triển khai thi hành”.
        2. PGS, PGS, TS Nguyễn Ngọc Anh (2008), Giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam.
        3. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), “Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
        4. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), “Bộ luật Tố tụng hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

[1] Điều 192, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

Tác giả bài viết: Vũ Ngọc Vụ - Trường Đại học CSND
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số tháng 7/2018
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 491/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt điều chỉnh chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất răn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050)

Ngày BH: (06/05/2018)

Số: 1250/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030)

Ngày BH: (30/07/2013)

Số: 582/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định về việc phê duyệt đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi ni lông khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020)

Ngày BH: (10/04/2013)

Số: 25/CT-TTg
Tên: (CHỈ THỊ VỀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CẤP BÁCH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG)

Ngày BH: (30/08/2016)

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (28/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (13/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)