Rss Feed

Vài suy nghĩ về tâm lý giao tiếp, ứng xử của cảnh sát khu vực

Đăng lúc: Thứ hai - 25/07/2016 21:11 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
       Cảnh sát khu vực là lực lượng hoạt động có tính chất công khai, thường xuyên có quan hệ tiếp xúc gần gũi, gắn bó với nhân dân. Tính đến tháng 6/2015, cả nước có 12.037 đồng chí Cảnh sát khu vực (CSKV) được bố trí tại 1.545 phường, 435 thị trấn, xã trọng điểm về an ninh trật tự (ANTT) và 11 đồn Công an. Khoản 1, Điều 3 Điều lệnh CSKV năm 2015 quy định: “CSKV thuộc lực lượng Cảnh sát nhân dân, công tác tại Công an phường, thị trấn, đồn Công an và Công an xã trọng điểm phức tạp về ANTT. CSKV thực hiện chức năng thi hành pháp luật về quản lý ANTT; trực tiếp tiến hành các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các hànhvi vi phạm pháp luật, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội ở địa bàn phụ trách”. Về nguyên tắc, lề lối làm việc: Dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Trong thời gian làm việc, CSKV phải thường xuyên có mặt tại địa bàn phụ trách; thời gian làm việc tại trụ sở đơn vị để họp, giao ban, hội ý công tác, viết báo cáo, nghiên cứu tài liệu không quá một nửa thời gian làm việc trong ngày (trừ trường hợp giải quyết vụ, việc đột xuất).
       Như vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, mỗi đồng chí CSKV phải có khả năng làm việc độc lập, khả năng vận động quần chúng, có kiến thức, kỹ năng giao tiếp và đặc biệt phải vận dụng kiến thức tâm lý trong giao tiếp, gặp gỡ, vận động. Trong đó, cần chú ý chuẩn bị và thực hiện tốt những nội dung sau đây:
       Một là, chuẩn bị tâm lý trước khi giao tiếp. Trước khi giao tiếp, CSKV cần phải phác thảo được đặc điểm tâm lý của đối tượng giao tiếp:Cần phải có thông tin về trình độ nhận thức, quan điểm chính trị, đạo đức,lối sống; thông tin về tính cách,khí chất của đối tượng giao tiếp. Việc phác thảo được đặc điểm của đối tượng giao tiếp giúp cho CSKV định hướng được mình cần nói nội dung gì? Nói như thế nào? Nói ở mức độ nào? Nói bằng cách nào để đối tượng giao tiếp dễ chấp nhận, dễ tiếp thu nhất. Tính cách, khí chất của mỗi người có liên quan đến cách thức phản ứng trước các tác động khách quan; dựa vào những đặc điểm trên của đối tượng, CSKV có thể dự đoán được những phản ứng có thể xẩy ra và lựa chọn cách thức tác động đến đối tượng sao cho phù hợp nhất.
       Tìm hiểu những mối quan hệ xã hội có ảnh hưởng đến quan hệ giao tiếp của đối tượng: Những quan điểm, thái độ của cá nhân nhiều khi không phải là chính kiến của cá nhân đó, mà do sự tác động của người khác, do sức ép của dư luận, của người có ảnh hưởng lớn lên đối tượng… Do vậy, CSKV thông qua công tác quản lý nhân hộ khẩu, quản lý đối tượng để nắm vững “4 yêu cầu thông thuộc về người” trong đó có nội dung các mối quan hệ gia đình, quan hệ xã hội để phát hiện xem ai là người có ảnh hưởng đến quá trình hình thành những quan điểm, thái độ, cách thức ứng xử của đối tượng giao tiếp. Tìm hiểu những vấn đề mà đối tượng giao tiếp quan tâm, hứng thú: Những vấn đề mà đối tượng giao tiếp quan tâm, hứng thú sẽ thu hút đối tượng giao tiếp mạnh nhất; nói đúng chủ đề mà đối tượng giao tiếp có hứng thú sẽ tạo ra cuộc giao tiếp tích cực, vui vẻ, thoải mái. Vì vậy, phải chú ý xem đối tượng quan tâm đến vấn đề gì? Có hứng thú, sở thích ra sao? Ngoài ra, cũng cần phải tìm hiểu trạng thái tâm lý của đối tượng giao tiếp trước khi gặp gỡ, vận động: Khi đã nắm được đặc điểm, thuộc tính tâm lý của đối tượng giao tiếp là cơ sở đầu tiên để CSKV định hướng giao tiếp; song không phải lúc nào các đặc điểm tâm lý, tính cách cũng ổn định mà còn phụ thuộc vào trạng thái tâm lý của đối tượng giao tiếp ở từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
       Cho nên, trước khi tiến hành gặp gỡ, giao tiếp, vận động CSKV phải tìm hiểu xem trạng thái tâm lý của đối tượng giao tiếp như thế nào từ đó phác thảo “Mô hình giao tiếp” phù hợp.
       Hai là, phác thảo mô hình về quá trình giao tiếp sắp diễn ra:Dự kiến những điều kiện tiếp xúc thuận lợi nhất, CSKV cần dự kiến nên gặp gỡ, tiếp xúc trong điều kiện nào về địa điểm, thời gian, không gian… thuận lợi nhất; những yếu tố này được xác định sẵn, hạn chế sự tác động của những tác nhân gây trở ngại đến quá trình gặp gỡ, tiếp xúc và tạo được các hiệu ứng tâm lý tích cực đến quá trình giao tiếp, vận động. Dự kiến cách mở đầu ,diễn biến và kết thúc cuộc gặp gỡ, vận động. Mở đầu, nếu là giao tiếp “đối thoại” thì nên thiết lập không khí giao tiếp tích cực giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp, cần chú ý đến việc tác động vào tình cảm của đối tượng; mở đầu giao tiếp chú ý đến nội dung liên quan đến nhu cầu, lợi ích, tâm tư, tình cảm. Nếu là giao tiếp “độc thoại” thì cách mở đầu cuộc nói chuyện thường liên quan đến nội dung tuyên truyền, vận động để gây sự chú ý của các đối tượng giao tiếp đến vấn đề chủ thể cần trình bày. Dự kiến các luận điểm chính, quan trọng cần nói: CSKV phải phác thảo được những luận điểm chính cần nói với đối tượng giao tiếp. Trong mỗi luận điểm chính, cần chuẩn bị sẵn cách diễn đạt sao cho vừa có tính thuyết phục về lý lẽ khoa học, vừa có tác động mạnh mẽ đến tình cảm. Khi đã phác thảo được những nội dung cốt lõi, cơ bản của cuộc giao tiếp, vận động thì CSKV sẽ làm chủ được nội dung câu chuyện của mình với đối tượng giao tiếp, thu hút được đối tượng giao tiếp; tránh lan man, lạc đề, xa rời mục đích giao tiếp. Ngoài những luận điểm chính  thì những  điều  quan  trọng  cần nói trong giao tiếp của chủ thể cũng cần được chuẩn bị trước. Trong trường hợp cần phải thuyết phục đối tượng thay đổi thái độ thì việc tác động vào tình cảm, vào nhận thức của họ là việc làm không thể thiếu được. Tuy nhiên, tuỳ theodiễn biến cụ thể của cuộc giao tiếp mà CSKV cần lựa chọn cho phù hợp và hiệu quả. Ngoài ra, ở giai đoạn này CSKV cũng cần dự đoán trước các tình huống giao tiếp, các phản ứng của đối tượng trong quá trình giao tiếp, cách thức kết thúc giao tiếp…
       Ba là, trong quá trình giao tiếp: Khi bắt đầu giao tiếp, tiếp xúc với đối tượng giao tiếp, CSKV cần quan sát và phán đoán trạng thái tâm lý của đối tượng lúc bắt đầu gặp gỡ; phải quan sát vẻ mặt, lời nói, cử chỉ, điệu bộ của đối tượng giao tiếp để phán đoán trạng thái tâm lý bên trong. Tuỳ theo trạng thái tâm lý của đối tượng giao tiếp là bình thường hay bất thường mà chủ thể quyết định có nên xúc tiến quá trình gặp gỡ, giao tiếp như kế hoạch hay không. Ở đây đòi hỏi CSKV phải có sự nhạy cảm, có kinh nghiệm, khả năng phán đoán trong giao tiếp.
       Trong quá trình giao tiếp: Quan sát, đọc trên né tmặt, cử chỉ, động tác, lời nói, ngữ điệu của đối tượng giao tiếp. CSKV qua quá trình tri giác các trạng thái tâm lý của đối tượng giao tiếp để phán đoán được thái độ của đối tượng, cụ thể là kỹ thuật lắng nghe trong giao tiếp: Nghe là phương tiện quan trọng trong giao tiếp, ngoài việc chú ý nghe nội dung câu nói còn phải chú ý nghe ngữ điệu, cách dùng từ của đối tượng giao tiếp; trong nhiều trường hợp ngữ điệu, lời nói phản ánh chính xác trạng thái tâm lý của người nói hơn là nghĩa của từ, của câu đó. Ngôn ngữ biểu cảm còn thể hiện tính cách, khí chất, trí tuệ, tình cảm, ý chí của đối tượng giao tiếp. Do vậy, chú ý lắng nghe và biết lắng nghe sẽ cung cấp cho CSKV rất nhiều thông tin về đối tượng giao tiếp. Trong khi nghe cần chú ý xem lúc nào thì đối tượng lên giọng, hăng say; lúc nào thì đối tượng hạ giọng, ngập ngừng, lưỡng lự… chú ý lắng nghe trong giao tiếp giúp CSKV có thông tin chính xác về trạng thái tâm lý của đối tượng. Kỹ thuật quan sát: Quan sát nét mặt, cử chỉ, hành vi của đối tượng giúp CSKV thu nhận những thông tin có giá trị về đối tượng giao tiếp; trong nhiều trường hợp những hành vi, cử chỉ “vô thức” nhiều khi phản ánh chính xác tâm lý con người hơn là hành vi, cử chỉ có ý thức. Quan sát đối tượng giao tiếp sẽ thu được một hệ thống thông tin về biểu hiện bên ngoài của đối tượng; đối chiếu giữa hành vi ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ, giữa hành vi vô thức và hành vi có ý thức cho phép CSKV phán đoán trạng thái tâm lý bên trong của đối tượng mà mình đang tác động và hiểu đầy đủ trạng thái tâm lý của họ để có định hướng chính xác trong quá trình gặp gỡ, giao tiếp.
       Chuyển từ tri giác bên  ngoài đến nhận ra bản chất tâm lý bên trong của đối tượng giao tiếp: Đây là nội dung đòi hỏi CSKV phải vận dụng vốn tri thức tâm lý, kinh nghiệm sống,tư duy lôgíc và vốn hiểu biết về tâm lý, nhân cách của đối tượng giao tiếp vào việc xử lý thông tin, phân tích những hiện tượng cụ thể xẩy ra trong quá trình giao tiếp để tìm ra bản chất tâm lý của các hiện tượng đó. Như vậy, CSKV phải có kỹ năng quan sát tinh tế để phán đoán chính xác trạng thái tâm lý bên trong của đối tượng giao tiếp, hiểu đúng các trạng thái tinh thần của họ, để từ đó định hướng được chính xác quá trình gặp gỡ, giao tiếp và vận động đối tượng.
       Tóm lại, để gặp gỡ, giao tiếp và vận động quần chúng thành công đòi hỏi mỗi đồng chí CSKV phải không ngừng học tập, tìm hiểu các môn học: Xã hội học; Tâm lý học; Kỹ năng giao tiếp, ứng xử; Vận động quần chúng bảo vệ ANTT… và vận dụng những tri thức khoa học này vào thực tiễn. Bên cạnh đó, phải thường xuyên bám sát địa bàn, gần gũi với nhân dân để nắm được phong tục tập quán, lối sống sinh hoạt, đặc điểm tâm lý của người dân trong khu vực, địa bàn mình phụ trách. Thường xuyên chú ý rút kinh nghiệm trong gặp gỡ, giao tiếp và vận động quần chúng của bản thân qua các tình huống, các đối tượng, yêu cầu, mục tiêu gặp gỡ, giao tiếp khác nhau. Đồng thời, thường xuyên quán triệt, thực hiện: “Đối với nhân dân: Luôn luôn kính trọng, lễ phép. Nhã nhặn, lắng nghe ý kiến của nhân dân; hướng dẫn cụ thể, giải thích rõ rang những yêu cầu của nhân dân và giải quyết nhanh chóng, kịp thời các công việc của nhân dân theo thẩm quyền. Có thái độ niềm nở khi tiếp xúc với nhân dân; không được lạnh nhạt, cửa quyền, hách dịch, trù úm, coi thường, dọa nạt nhân dân; có lời nói, việc làm xúc phạm đến nhân dân hoặc có thái độ thờ ơ, né tránh, bàng quan, thiếu trách nhiệm trước yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Tác giả bài viết: Nguyễn Ngọc Sơn
Nguồn tin: Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 74 (4/2016)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 3 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (28/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (13/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)

Số: Chỉ thị số 14-CT/TW
Tên: (Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng)

Ngày BH: (18/07/2017)

Số: 1884/QyĐ-T48
Tên: (Quy định về văn hóa ứng xử của cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Trường Đại học CSND)

Ngày BH: (12/10/2017)

Số: 27/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân)

Ngày BH: (21/08/2017)

Số: 124/2015/NĐ-CP
Tên: (NGHỊ ĐỊNH SỐ 185/2013/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2013)

Ngày BH: (14/11/2013)