Rss Feed
Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh
Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật
Bông Hồng Xanh
tap chi

Thống kê

  • Đang truy cập: 24
  • Khách viếng thăm: 23
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 3832
  • Tháng hiện tại: 142990
  • Tổng lượt truy cập: 3358025

Tư tưởng nhân đạo sâu sắc - Giá trị cốt lõi của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Đăng lúc: Thứ ba - 17/04/2018 21:31 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
        Nói tới truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, không thể không nhắc đến những tư tưởng, quan điểm đạo đức mang giá trị nhân văn, thể hiện đạo lý về tình thương con người bao trùm trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Trong việc xây dựng nền tảng của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, tư tưởng nhân đạo càng được thể hiện sâu sắc hơn bao giờ hết.
          Trong Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có thể thấy tư tưởng nhân đạo được phản ánh rõ nét, là tư tưởng bao trùm, xuyên suốt trong quan điểm, đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm. Tư tưởng này cũng được xác định là kim chỉ nam trong suốt lịch sử lập pháp qua các thời kỳ khác nhau và trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tư tưởng nhân đạo một lần nữa được thể hiện rõ nét và sâu sắc, thể hiện được bản chất giai cấp của nhà nước ta trong từng chế định pháp luật cụ thể.
          1. Tư tưởng nhân đạo thể hiện trong chính sách hình sự
          Chính sách hình sự là một bộ phận của chính sách pháp luật thể hiện tư tưởng, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trong từng thời kỳ nhất định. Tư tưởng nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và nhà nước ta thể hiện đường lối xử lý đối với các tội phạm được xác định trên cơ sở coi trọng cả mục đích trừng trị và giáo dục, phòng ngừa tội phạm, trong đó mục đích giáo dục người phạm tội, đề cao tính “hướng thiện” luôn được đặt lên hàng đầu.
          Trước hết, tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49/NQ-TW), trong đó Đảng ta đã chỉ rõ, cần phải “Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hạn chế áp dụng hình phạt tử hình…”. BLHS số 100/2015/QH13 (gọi là BLHS năm 2015) được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực toàn phần kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 đã kịp thời thể chế hoá chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, trong đó nhấn mạnh phải “tạo ra cơ chế hữu hiệu để bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và tổ chức, góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và tăng cường hội nhập quốc tế”1. Đây là những định hướng quan trọng, là cơ sở nền tảng cho việc xây dựng các chế định khác nhau của BLHS. Tội phạm và hình phạt được quy định phải xuất phát từ tính đặc thù của từng loại tội phạm cũng như các điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội chi phối. Có như vậy, tính chất giáo dục cũng như phòng ngừa của hình phạt mới đạt được hiệu quả và đảm bảo được sự đồng thuận trong dư luận xã hội.
          Có thể nhận thấy, tinh thần đổi mới trong nhận thức về chính sách hình sự mang đầy tính nhân văn mà trọng tâm là đổi mới quan niệm về tội phạm và hình phạt, về cơ sở của trách nhiệm hình sự, về chính sách xử lý đối với một số loại tội phạm và loại chủ thể phạm tội, đảm bảo các quy định của BLHS không chỉ là công cụ pháp lý để các cơ quan chức năng đấu tranh, trấn áp tội phạm mà còn là cơ sở pháp lý để mọi người dân tự bảo vệ mình, bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội; khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức chủ động tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong đó, chính sách hình sự tập trung vào việc phân hóa trách nhiệm hình sự được thể hiện khá rõ nét như phân hóa độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, phân hóa loại tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự, mức độ trách nhiệm hình sự cũng như phân hóa đối tượng áp dụng của chính sách hình sự...
          Một trong những nội dung trọng tâm được đề cập đó chính là việc xác định các đối tượng ưu tiên được hưởng chính sách nhân đạo của nhà nước khi phạm tội hoặc khi xét xử được quan tâm đặc biệt bao gồm: Phụ nữ có thai, người dưới 18 tuổi, người già2... Đối với đối tượng là người dưới 18 tuổi, xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý và những giới hạn trong nhận thức, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có sự điều chỉnh mạnh mẽ trong chính sách hình sự. So với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã điều chỉnh theo hướng bảo đảm lợi ích tốt nhất cho họ, trên tinh thần bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên, cụ thể là: Đối với người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã thu hẹp đáng kể phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, theo đó chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về việc thực hiện 29 tội danh trong số 314 tội danh được quy định trong BLHS3. Đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên, nếu hành vi trong giai đoạn chuẩn bị, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 21 tội danh trong số 314 tội danh4. Bên cạnh việc cụ thể hóa các điều kiện miễn trách nhiệm hình sự áp dụng riêng cho từng đối tượng người chưa thành niên (người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi), BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung 03 biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp họ được miễn trách nhiệm hình sự. Đó là: Khiển trách; hòa giải tại cộng đồng; biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Một điểm mới đáng lưu ý trong chính sách hình sự đối với người chưa thành niên là BLHS năm 2015 quy định rõ trong 3 trường hợp người chưa thành niên bị kết án được coi là không có án tích5. Với những quy định nêu trên cho thấy đường lối xử lý đối với người dưới 18 tuổi luôn được cân nhắc, ưu tiên, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho người chưa thành niên có cơ hội sửa chữa sai lầm, phấn đấu trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội...
          Có thể khẳng định, chính sách hình sự chứa đựng rất nhiều nội dung mang tính nhân đạo bao trùm hầu hết các chế định khác nhau của BLHS năm 2015.
          2. Tư tưởng nhân đạo thể hiện trong chế định tội phạm
          Tội phạm là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội so với các hành vi vi phạm pháp luật khác. Việc xác định và ghi nhận một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và đưa nó vào BLHS là kết quả của sự đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và sự cần thiết phải xử lý hành vi đó trước pháp luật. Biểu hiện của tính nhân đạo trong việc quy định một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm không phải là sự áp đặt ý chí của Nhà nước mà về bản chất hành vi đó vốn dĩ đã hội đủ những yếu tố tiêu cực tồn tại một cách khách quan, người làm luật quy định tội phạm nhằm mục đích để bảo vệ các giá trị xã hội quan trọng khác.
          Xuyên suốt chế định tội phạm được quy định trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với 314 tội danh quy định từ chương XIII đến chương XXVI là sự ghi nhận và phản ánh đúng những hành vi nguy hiểm cho xã hội đã và đang tác động tiêu cực đến các phương diện của đời sống chính trị-xã hội. Tuy nhiên việc cân nhắc, tính đến khả năng phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của nhà nước đối với từng hành vi nguy hiểm, từng tội phạm cụ thể được dựa trên nhiều yếu tố khác nhau với phương châm: cụ thể hóa các trường hợp bị coi là tội phạm và không bị coi là tội phạm (được loại trừ trách nhiệm hình sự).
          Cơ sở của trách nhiệm hình sự tại điều 2 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã khẳng định “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Điều đó có nghĩa là xác định tội phạm phải theo nguyên tắc có luật mới có tội, không có luật thì không có tội. Luật hình sự không cho phép quy tội khách quan, đồng thời không cho phép áp dụng nguyên tắc tương tự về luật. Các tội phạm cụ thể cũng được sắp xếp theo thứ tự từng chương, từng điều luật căn cứ vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của khách thể của tội phạm. Điều đó khẳng định một lần nữa tính ưu việt của nhà nước trong việc luôn luôn coi trọng và ưu tiên hàng đầu vấn đề bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, tự do, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, pháp nhân.
          Trong các quy định về tội phạm của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân được thể hiện khá rõ nét. Các hành vi nguy hiểm xâm phạm các quyền cơ bản của con người trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đều được ghi nhận. Quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người (Chương XIV), nhóm các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do dân chủ của công dân (Chương XV) theo hướng tiếp tục tăng cường với những chế tài nghiêm khắc6 nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân được bảo vệ một cách trọn vẹn nhất. Điều đó khẳng định tư tưởng nhân đạo của nhà nước trong việc phân định rạch ròi giữa công và tư, giữa thiện và ác, điều cốt lõi là quyền lợi của người yếu thế hơn (người bị hành vi phạm tội xâm phạm đến các lợi ích hợp pháp) sẽ được pháp luật tôn trọng và bảo vệ một cách tuyệt đối. Điều đó không chỉ đáp ứng yêu cầu của việc thể chế hóa nội dung của Hiến pháp 2013 mà còn đảm bảo được yêu cầu nội luật hóa các văn bản pháp lý quốc tế mà Việt Nam đã ký kết trong những năm qua.
          Việc phi tội hóa một số hành vi nguy hiểm cho xã hội ra khỏi BLHS năm 20157 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tiếp tục khẳng định đường lối xử lý đối với những hành vi chưa thực sự cần thiết áp dụng các chế tài hình sự nghiêm khắc, có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính, kinh tế... vừa góp phần giảm tải chi phí của nhà nước trong việc thi hành các biện pháp cưỡng chế hành vi vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn đảm bảo sự hợp lý, nhân văn, công bằng, phù hợp trong sự tương quan với những tội phạm khác được quy định trong BLHS.
          Về những trường hợp không phải là tội phạm, ngoài việc tiếp tục duy trì và cụ thể hóa các trường hợp như trong Bộ luật hiện hành8, BLHS năm 2015 đã bổ sung thêm 3 trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự là: Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm pháp; rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (các điều 24, 25, 26 BLHS năm 2015). Đây là những trường hợp cần thiết quy định nhằm tạo hành lanh pháp lý an toàn để khuyến khích người dân an tâm, tích cực tham gia phòng chống tội phạm; tham gia các hoạt động sản xuất, nghiên cứu khoa học có tính chất “đột phá” vì lợi ích chung của toàn xã hội đồng thời nhằm để bảo vệ chính quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
          Như vậy, có thể thấy tính nhân đạo không chỉ được truyển tải trong chính sách hình sự nói chung mà nó còn được cụ thể hóa trong từng chế định tội phạm cụ thể.
          3. Tư tưởng nhân đạo thể hiện trong chế định hình phạt
          Nhìn nhận một cách tổng thể, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tiếp tục đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
          Thứ nhất, hệ thống hình phạt, trong đó các hình phạt chính được sắp xếp theo một trật tự nhất định từ hình phạt nhẹ đến hình phạt nặng, từ hình phạt ít nghiêm khắc đến hình phạt nghiêm khắc nhất9 , mặt khác trong các hình phạt khác nhau có nhiều hình phạt không tước tự do, điều đó thể hiện được tinh thần trong đường lối xử lý của nhà nước ta là đi từ cải tạo, giáo dục sau đó mới tới trừng trị đối với người phạm tội. Hình phạt, về bản chất không phải là sự trả thù của Nhà nước đối với người phạm tội mà mục đích chính là giáo dục, cải tạo họ trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
          Từng hình phạt khác nhau cũng có sự thay đổi về nhận thức và áp dụng theo xu hướng chung là mở rộng phạm vi áp dụng các hình phạt ít nghiêm khắc đồng thời hạn chế phạm vi áp dụng các hình phạt nghiêm khắc. Cụ thể, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tiếp tục thể chế hóa chủ trương hạn chế áp dụng hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt không tước tự do đối với người phạm tội. Theo đó, hình phạt tiền được mở rộng khả năng áp dụng là hình phạt chính không chỉ đối với người phạm tội ít nghiêm trọng (như quy định của BLHS năm 1999) mà còn được áp dụng ngay cả đối với người phạm các tội nghiêm trọng. Riêng đối với nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường thì hình phạt tiền còn có thể áp dụng đối với một số tội rất nghiêm trọng. Bên cạnh đó, Bộ luật còn sửa đổi hình phạt cải tạo không giam giữ theo hướng tăng cường tính cưỡng chế nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục của loại hình phạt này. Ngoài ra, đối với hình phạt tù, Bộ luật khẳng định nguyên tắc không áp dụng hình phạt tù đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý (khoản 2 Điều 37), theo đó, tại Phần các tội phạm, số lượng các khoản không quy định hình phạt tù tăng từ 6 khoản lên 31 khoản so với quy định của BLHS năm 199910.
          Đối với hình phạt tử hình, BLHS tiếp tục thể chế hóa chủ trương thu hẹp phạm vi áp dụng (giảm số tội áp dụng và đối tượng áp dụng) hình phạt tử hình được khẳng định tại các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp. Theo đó, Điều 40 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã khoanh phạm vi áp dụng loại hình phạt này chỉ đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định. Đồng thời, Bộ luật đã bổ sung thêm các trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình và không thi hành án tử hình11. Một điểm đáng chú ý đối với quy định liên quan đến hình phạt tử hình là Bộ luật đã bỏ hình phạt tử hình ở 08 tội danh12. Như vậy, cho đến thời điểm này trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) còn giữ lại hình phạt tử hình đối với 16 tội danh trong số 314 tội danh.
          Thứ hai, ngoài các biện pháp cưỡng chế hình sự, các biện pháp tha, miễn hình sự cũng được chú trọng đề cập với mục đích nhân đạo, là những quy định có lợi tạo điều kiện thuận lợi cho người phạm tội có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng một cách tốt nhất. Ngoài việc xác định các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, miễn chấp hành hình phạt, xóa án tích… BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung chế định tha tù trước hạn có điều kiện (Điều 66) với những quy định hết sức chặt chẽ nhưng đầy tính nhân văn, nhằm tạo cơ hội cho những phạm nhân tích cực cải tạo tốt trong quá trình chấp hành án ở các cơ sở giam giữ được sớm trở về với gia đình và xã hội, đồng thời tiếp tục chứng tỏ sự cải tạo của mình trong môi trường xã hội bình thường, có sự giám sát của chính quyền địa phương và của gia đình. Quy định này góp phần thực hiện chủ trương của Đảng về việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, xóa bỏ dần những định kiến của xã hội đối với người đã từng vi phạm pháp luật trong quá khứ nhưng có sự cải tạo tốt, thể hiện quyết tâm “hướng thiện”.
          Có thể khẳng định, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thực sự là một sản phẩm của trí tuệ, của tính nhân văn, trong đó thông điệp của người làm luật muốn nhấn mạnh bản chất nhà nước, bản chất giai cấp của chế độ ta là luôn luôn bảo vệ quyền con người, quyền công dân đến mức có thể. Chính vì vậy, các chủ thể áp dụng pháp luật cần nhận thức đúng đắn vấn đề này để triển khai trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm với phương châm không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân, tổ chức không bị xâm phạm.
Tác giả bài viết: Phan Thị Bích Hiền
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 99
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (28/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (13/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)

Số: Chỉ thị số 14-CT/TW
Tên: (Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng)

Ngày BH: (18/07/2017)

Số: 1884/QyĐ-T48
Tên: (Quy định về văn hóa ứng xử của cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Trường Đại học CSND)

Ngày BH: (12/10/2017)

Số: 27/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân)

Ngày BH: (21/08/2017)

Số: 124/2015/NĐ-CP
Tên: (NGHỊ ĐỊNH SỐ 185/2013/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2013)

Ngày BH: (14/11/2013)