Rss Feed
Chào mừng Khai giảng năm học 2020-2021 Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và vận dụng trong công tác bảo vệ an ninh, trật tự hiện nay

Đăng lúc: Thứ năm - 03/03/2016 12:13 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
      Trải qua bao thăng trầm của lịch sử vấn đề dân chủ luôn luôn tạo nên điểm nóng trong các cuộc tranh luận chính trị. Từ nhận thức về dân chủ đến thực hiện dân chủ, không phải lúc nào hai khía cạnh đó cũng tương thích với nhau. Chỉ với sự ra đời nền dân chủ XHCN, việc thực hiện dân chủ mới đạt được những thành quả to lớn, khắc phục từng bước mâu  thuẫn  giữa nhận  thức và thực hiện dân chủ. Tư tưởng Hồ Chí Minh  về dân  chủ  chính  là một  trong những định hướng quan trọng cho quá trình xây dựng, phát triển đất nước, dân chủ hoá đời sống xã hội.
      Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ, Hồ Chí Minh ngay từ những năm tháng hoạt động cách mạng ở nước ngoài đã hướng đến công nhân và nông dân như nòng cốt của cuộc đấu tranh  giải phóng dân tộc và cải tạo xã hội. Vào năm 1925, trong bài dịch Quốc tế ca, Người khẳng định nhân dân là chủ thực sự của xã hội, đất nước. Người viết:
      “Việc ta ta phải gắng lo,
      Chẳng nhờ trời phật, chẳng nhờ thần linh.
      Công nông mình cứu lấy mình,
      Sửa sang thế đạo kinh dinh nhân quyền”1
      Quan điểm “dân chủ” đã được Hồ Chí Minh theo đuổi trong suốt cuộc đời đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân, là kết quả của một cuộc khảo nghiệm, sàng lọc lịch sử, là sự kế thừa những thành tựu của trí tuệ và văn minh nhân loại có giá trị nhân văn sâu sắc. Trong quan niệm của Hồ  Chí Minh,  nói đến  nhân  dân trước hết phải là nhân dân lao động, các giai cấp cần lao mà trước đây đều là lớp người bị áp bức bóc lột. Khao khát giải phóng nhân dân bị nô lệ vốn luôn chi phối sự quan tâm, suy nghĩ của Người, trước hết là vẫn hướng tới các tầng lớp dân cư này.
      Sự giải phóng và nền độc lập không tự nhiên đưa lại hạnh phúc cho mọi người, nhất là trong điều kiện trình độ kinh tế, xã hội còn thấp, sự nghèo nàn vẫn còn tồn tại khắp nơi. Vì vậy, lớp người lao động vốn chiếm số đông trong dân cư cả sau ngày đất nước đã độc lập, tự do cuộc sống của họ vẫn nghèo nàn thiếu thốn và điều đó đã trở thành mối quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính trong tinh thần đó Người đã nhắn gửi các nhân viên, cơ quan chính quyền các cấp: “Chính phủ ta đã hứa với dân sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc. Trong việc kiến thiết nước nhà, sửa sang mọi việc phải làm dần dần, không thể một tháng, một năm mà làm được hết”2.
      Từ những trăn trở trên đây của Hồ Chí Minh, chúng ta có thể hiểu quan niệm tự do, hạnh phúc của Người luôn gắn liền với ham muốn và đây là ham muốn tột bậc của Người: Đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Người dành sự quan tâm trước tiên cho nhân dân lao động vì đó là lớp người bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất, nghèo khổ nhất, đồng thời họ cũng là lực lượng đông đảo nhất,  hăng  hái cách mạng  nhất.  Cách mạng không những nhằm giải phóng họ mà đồng thời còn phải dựa vào họ như một lực lượng hùng hậu, cơ bản. Cũng vì vậy, trong tư duy và hoạt động thực tiễn của mình, Người cũng dành sự quan tâm đầy đủ đối với tất cả tầng lớp dân cư trong xã hội.
      Khi Người nói đến việc “Nhân  dân hưởng hạnh phúc tự do, ăn no, mặc ấm”, thì từ “hưởng” ở đây hoàn toàn không phải bao hàm nghĩa như là một thứ ân huệ được ban tặng. Trong suốt cuộc đời đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân, Người không  ngừng giác ngộ cho mọi người nhận thức như chính mình về tư tưởng tự lực cánh sinh: “Việc ta ta phải gắng lo”, “công nông mình cứu lấy mình”, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
      Giành được chính quyền là nhân dân giành lại được quyền là người chủ xã hội và cả quyền làm chủ xã hội, nhưng từ ý thức về địa vị “là chủ” đến “quyền làm chủ” và làm chủ trên thực tế phải có những điều kiện chặt chẽ đi theo. Ở Hồ Chí Minh, tư duy phát triển theo chiều hướng: Cách mạng giành chính quyền, làm chủ chính quyền, xây dựng xã hội là sự nghiệp của toàn dân, của chính nhân dân, không ai làm thay được. Nhưng để tham  gia cuộc đấu tranh  và trong quá trình của cuộc đấu tranh đó, nhân dân phải được giác ngộ, tập hợp, đoàn kết lại thành sức mạnh.
      Để thực hiện quyền làm chủ, nhân dân không phải chỉ có quyền mà quan trọng là nhân dân phải có năng lực làm chủ. Đây cũng chính là mối quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh, Người nói: “Muốn làm chủ được tốt phải có năng lực làm chủ”3. Ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành  công, mối quan tâm đó luôn theo suốt quá trình  hoạt động cách mạng của Người, Người đã nói với những xã viên hợp tác xã Tảo Dương, xã Hồng  Dương, huyện  Thanh Oai, Tỉnh Hà  Tây trong  dịp  Người về thăm  và chúc tết vào ngày mùng 2 tết Đinh Mùi (10/2/1967): “Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”.
      Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo bồi dưỡng cho từng mầm non, chồi lọc của sức dân làm chủ. Người hiểu hơn ai hết thực trạng sức dân làm chủ và chính Người phải thốt lên điều trăn trở “Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”. Mặc dù trong việc bồi dưỡng sức dân, bồi dưỡng năng lực làm chủ có nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng đó không phải là một tình trạng không vượt qua được. Hồ Chí Minh đã thể hiện sự sáng suốt, đề ra được đường lối xây dựng, bồi dưỡng năng lực làm chủ, kết nối quyền và năng thành thực tế làm chủ của nhân dân.
      Ngay từ những ngày đầu cách mạng thành công và trong suốt thời gian về sau, Hồ Chí Minh luôn tâm niệm về sự cần thiết bồi dưỡng sức dân, thực hiện quyền làm chủ bằng cả một quốc sách được triển khai trên quy mô rộng trong phạm vi cả nước - công cuộc nâng cao dân trí, bồi dưỡng dân khí - những nhân tố hàng đầu hình thành năng lực làm chủ của nhân dân. Người thấy được ý nghĩa căn bản của các cải cách xã hội đối với việc bồi dưỡng sức dân, xây dựng nền dân chủ. Người nói: “chúng ta phải ra sức thực hiện những cải cách xã hội để nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện dân chủ thật sự”5. Để bồi dưỡng sức dân và năng lực làm chủ, Người đòi hỏi phải bao quát toàn diện và phải rất cụ thể. Xét về mặt này, các biện pháp cập nhật có khi tưởng như rất bộ phận nhưng lại mang ý nghĩa, tầm quan trọng to lớn. Có thể dẫn chứng tiêu biểu ở đây là bài báo Người viết đăng trên Báo Cứu quốc phát động phong trào luyện tập thể dục trong những tháng, năm đầu của chính quyền nhân dân. Người chỉ ra ý nghĩa chính trị dân chủ to lớn của việc luyện tập thể dục, vốn là một việc làm thông thường trong sinh hoạt đời thường của mỗi người. Người xem đây là bổn phận của mỗi một người yêu nước: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, xây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công. Mỗi một người dân yếu ớt tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”6.
      Trong chương trình  hành  động của Chính phủ lâm thời với 6 nhiệm vụ cấp bách mà Người đã trình bày trước phiên họp Chính phủ sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945), cả 6 nhiệm vụ trong hoàn cảnh cụ thể của những ngày đầu tiên của chính quyền nhân dân xét theo tính chất, nội dung đều mang tính cấp thiết, đồng thời trực tiếp hoặc gián tiếp có tác dụng bồi dưỡng sức dân, nâng cao dân trí, nuôi dưỡng dân khí, khơi dậy ở mỗi người dân và tất cả các tầng lớp nhân dân ý thức, tinh thần làm chủ nước nhà, ý thức trách nhiệm trước vận mệnh, tiền đồ của Tổ quốc vừa giành được quyền độc lập tự do. Trong đó, hai nhiệm vụ được Người đặt lên hàng đầu là chống nạn đói, nạn dốt.
      Có thể nói dân là chủ và dân làm chủ là vấn đề quán xuyến toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh. Đối với tất cả các vấn đề đường  lối, chủ  trương,  chính  sách về độc lập tự do của Tổ quốc, vấn đề xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa, vấn đề an ninh quốc phòng, ngoại giao... Người đều nhìn nhận, xem xét từ lợi ích của nhân  dân, dân là chủ và dân làm chủ. Sự quan  tâm của Người trong  những ngày đầu cách mạng về vấn đề xóa nạn mù chữ là một dẫn chứng cho sự nhìn nhận của Người trong mối quan hệ bồi dưỡng  sức dân,  nâng  cao dân  trí  với nuôi dưỡng dân khí để thực hành dân chủ thật sự. Người đã ra lời kêu gọi gửi nhân dân Việt Nam chống nạn thất học: “Khi xưa Pháp cai trị nước ta chúng thi hành chính sách ngu dân... Nay chúng ta giành được quyền độc lập. Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí... Mọi người Việt Nam  phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết  phải  biết  đọc,  biết  viết chữ  quốc ngữ”7. Người còn viết: “Chúng ta học tập chính là để có đủ năng lực làm chủ, có đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới... Bởi vậy, ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng hái lao động, mà còn phải tỏ rõ ở tinh thần say mê học tập để không ngừng nâng cao năng lực làm chủ của mình”8.
      Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân làm chủ không chỉ để hưởng quyền dân chủ, dù đó là hưởng thành quả do chính mình tạo nên mà còn để “biết dùng quyền dân chủ, dám nói, dám làm”. Cách diễn đạt đó tưởng như rất nôm na nhưng cực kỳ sâu sắc. Cùng với hưởng quyền dân chủ, việc dùng quyền dân chủ, dám nói, dám làm đưa lại cho quyền dân chủ của nhân dân một nội dung hàm súc thể hiện một thái độ chủ động, tích cực xây dựng và sáng tạo từ phía nhân dân. Quan niệm biết hưởng quyền dân chủ và biết dùng quyền dân chủ thể hiện một đòi hỏi cao về năng lực làm chủ, đó không chỉ là thước đo về dân trí mà còn cả dân khí. Yêu cầu dám nói, dám làm là để thể hiện trong thực tế dân là chủ và dân làm chủ; dám nói, dám làm còn hàm chứa một khía cạnh, một phương diện rất tế nhị, phức tạp trong cơ chế “dân làm chủ”. Ở đây Hồ Chí Minh đã hình dung đến một thứ quan hệ mà trong một chừng mực nhất định lại có thể trở thành vật cản cho “thực hành  dân chủ thực sự”. Hồ Chí Minh không chỉ nói biết dùng quyền làm chủ mà còn bổ sung dám nói, dám làm là để thể hiện yêu cầu phải vượt lên vật cản và đòi hỏi phải có một môi trường, một không gian dân chủ có sức cổ vũ, khích lệ hành vi “dám nói, dám làm” của nhân dân. Qua những  lời tưởng chừng như mộc mạc đó có thể thấy Hồ Chí Minh đã gởi gắm tâm huyết, vừa thể hiện tấm lòng của một chiến sĩ nhiệt tâm đấu tranh vì một quyền dân chủ thật sự của nhân dân, vừa là một lời nhắn nhủ, lời di huấn về bản chất của một nền dân chủ cần phải được thiết lập ở nước ta.
      Hiện nay dưới tác động của những điều kiện khách quan và những bất cập, mâu thuẫn của cơ chế, của hệ thống quyền lực chính trị, vấn đề “dân chủ” chưa đạt được sự tương thích ở khá nhiều  mặt đời sống xã hội, gây nên bức xúc trong nhân dân, dẫn đến nguy cơ xói mòn lòng tin của nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa. Tình trạng mất dân chủ, thậm chí làm biến dạng giá trị của dân chủ đang diễn ra tại một số nơi, một số lĩnh vực. Chủ nghĩa cơ hội dưới những hình thức tinh vi đang lợi dụng sự yếu kém của bộ máy quản lý và sự tha hoá của một bộ phận cán bộ để trục lợi, miệng nói dân chủ nhưng trong hành động thực tế lại thu vén lợi ích cho cá nhân. Trong bối cảnh  đó, việc nhận  thức, thấm  nhuần và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, tạo điều kiện cho nhân dân thể hiện quyền làm chủ của mình  trở nên bức thiết, làm sao để ý nghĩa của “dân làm chủ” không còn bị xem là mang tính hình thức và trở thành câu khẩu hiệu của những phần tử cơ hội, cũng như không bị kẻ thù của sự nghiệp đổi mới lợi dụng, phá hoại quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
      Đối  với cuộc  đấu  tranh  bảo  vệ an ninh trật tự, Người quan niệm bảo vệ an ninh trật tự là sự nghiệp của nhân dân, dựa vào nhân dân là một bảo đảm chắc chắn cho thắng lợi của cuộc đấu tranh. Người căn dặn Công an nhân dân phải giáo dục, vận động và tổ chức nhân dân tham gia sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự. Tháng 1/1958, đến thăm Trường Công an Trung ương, nói chuyện với lớp nghiên cứu Khóa I và lớp Bổ túc khóa VI, Hồ Chí Minh căn dặn: “Muốn chuyên chính thật sự, phải thực sự dân chủ với nhân dân. Dân có mến, yêu, tin công an thì mới giúp công an chuyên chính với địch để tiến lên chủ nghĩa xã hội… Phải đi đường lối quần chúng thì nhân dân mới tin yêu, giúp công an và công an mới thành công được”9.
      Ngày 29/4/1963, đến thăm  hội nghị cán bộ ngành Công an, Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải ra sức phát động quần chúng tham gia phong trào bảo vệ trị an, giáo dục quần chúng nâng cao tinh thần làm chủ đất nước, tinh thần cảnh giác đối với kẻ thù của nhân dân, tích cực phòng và chống gián điệp biệt kích. Muốn đạt được kết quả đó thì công an phải hết lòng giúp đỡ nhân dân và dựa vào lực lượng hùng mạnh của nhân dân”10. Thấm nhuần tư tưởng của Người, làm theo tư tưởng của Người, lực lượng Công an nhân dân đã, đang và sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự mà Đảng và nhân dân giao phó.
Vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân chủ trong lĩnh vực bảo vệ an ninh trật tự hiện nay, trong công tác, mỗi cán bộ chiến sĩ Công an phải không ngừng học tập, rèn  luyện, xây dựng cho bản thân những phẩm chất sau:
      - Phải có quan điểm dân chủ đúng đắn, nghĩa là trước hết phải vì dân, phải tin dân, phải lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, đi sâu, đi sát nhân dân, nắm bắt kịp thời tình  hình để từ đó nghiên cứu, xây dựng, tổ chức thực hiện, đề xuất bổ sung hoàn chỉnh các chủ trương, chính sách cho hợp lòng dân.
      - Phải có tinh thần nhiệt tình, trách nhiệm cao với nhân dân: Lo nỗi lo của dân, sống với cuộc sống của dân, hòa nhập với nhân dân thì sẽ được dân mến, dân tin và dân ủng hộ.
      - Phải có uy tín đối với nhân dân: Uy tín của người cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân trước hết được thể hiện ở nhân cách của mình, ở khả năng thuyết phục nhân dân. Đó là sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa năng lực nhận thức và hành động. Những khả năng đó có tác dụng đoàn kết quy tụ, liên kết với các lực lượng khác, với những người khác và với quần chúng.
      - Phải có năng lực tổ chức và nghệ thuật vận động nhân dân tích cực tham gia phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.
      Đồng thời với “xây”, mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân phải chống những khuynh hướng và việc làm sai trái sau đây:
      - Chống mọi biểu hiện, việc làm theo lối hành chính, tác phong quan liêu, xa rời, gây phiền hà cho nhân dân.
      - Chống các hiện tượng làm “quan” cách mạng, mệnh lệnh cửa quyền, hách dịch, áp đặt đối với dân, không thật sự cầu thị lắng nghe ý kiến của nhân dân.
      - Chống coi nhẹ việc vận động thuyết phục nhân dân, không đi sát nhân dân, vi phạm quy chế dân chủ, không có sự phối hợp với các cơ quan, ban, ngành để tạo thành sức mạnh tổng hợp trong công tác vận động nhân dân.
      Ngày nay các thế lực thù  địch vẫn tìm mọi cách chống phá cách mạng Việt Nam, tình hình an ninh trật tự xã hội còn nhiều phức tạp. Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục trang bị cho mỗi chúng ta niềm tin, sức mạnh và phương pháp để làm tròn nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Tư tưởng Hồ Chí Minh về huy động sức mạnh của toàn dân cho đến nay và mãi mãi về sau vẫn còn nguyên giá trị. Bởi lẽ, nhân dân là lực lượng đông đảo, là nền tảng cho một nước, là gốc rễ của một dân tộc, là động lực chính để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Đó cũng là bài học về phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự.

 
Tác giả bài viết: Thượng tá, TS. Phùng Văn Nam - Phó trưởng Bộ môn Tâm lý, Trường Đại học CSND
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 67 (tháng 10/2015)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc