Rss Feed
Chào mừng Khai giảng năm học 2020-2021 Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Trao đổi về vấn đề “Quyền im lặng” trong Tố tụng hình sự

Đăng lúc: Thứ sáu - 11/03/2016 06:14 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
      Quyền con người và bảo đảm quyền con người luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi quốc  gia. Trong lĩnh vực pháp luật, vấn đề quyền con người lại là nền tảng trong việc nghiên cứu và ban hành các quy phạm. Và trong tố tụng hình sự (TTHS) cũng vậy, việc giải quyết vụ án hình sự không thể tách rời vấn đề bảo đảm quyền con người. Bởi lẽ để buộc tội và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người phải dựa trên những căn cứ luật định và phải do những người, những cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định nhằm mục đích không để lọt tội phạm song cũng không làm oan người vô tội. Ở Việt Nam, yêu cầu cải cách tư pháp đang được đặt ra cấp thiết. Hai văn bản của Bộ chính trị (Nghị quyết 08 ngày 2/1/2002 và Nghị quyết 49/2005) đã định ra mục tiêu cơ bản của cải cách tư pháp là đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, tránh oan sai người vô tội. Điều này chứng tỏ Nhà nước Việt Nam luôn chủ trương bảo vệ những người dân vô tội, kể cả những người chưa có quyết định của cơ quan tư pháp nhưng đang bị rơi vào hoàn cảnh cực kỳ khó khăn khi ở trong tình trạng bị cáo buộc là phạm tội. Tuy nhiên, thực tế giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam cho thấy vẫn còn tồn tại tình trạng oan sai, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cụ thể là quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong vụ án hình sự. Thực tế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ chính những quy định của pháp luật TTHS chưa thực sự thống nhất, chưa thực sự phù hợp với thực tiễn xã hội. Mặc dù Bộ luật TTHS Việt Nam đã trải qua 4 lần sửa đổi, bổ sung tuy nhiên cũng chỉ mới khắc phục được phần nào những bất cập đó chứ chưa thực sự đáp ứng được cho công tác áp dụng có hiệu quả.
      Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin trao đổi thêm một số vấn đề nhận được rất nhiều sự quan tâm trong thời gian qua đó là về “Quyền im lặng” trong TTHS, với mục tiêu đóng góp thêm những ý kiến cho việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS 2003, bảo đảm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân… để cùng các bạn đồng nghiệp nghiên cứu, trao đổi.
Tháng 9/2014, tại phiên họp thứ 31 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng đã đặt vấn đề: “Việc chống ép cung, bức cung, nhục hình, bỏ lọt tội phạm có thực sự hiệu quả khi bị can, bị cáo không có quyền im lặng”1. Câu hỏi này đã dấy lên những tranh luận khoa học “nảy lửa” trong suốt thời gian qua. Vậy chúng ta hiểu thế nào là quyền im lặng? Bản chất, nội hàm của khái niệm này thế nào? Những phương diện biểu hiện của quyền im lặng ra sao?
      Có nhất thiết phải quy định thành một điều luật cụ thể về quyền im lặng trong Bộ luật TTHS mới hay không? Có những vấn đề gì trở ngại, vướng mắc,… cho mục tiêu chung “Đấu tranh phòng chống tội phạm”? Nếu quy định điều đó vào luật thì thật sự đã hạn chế đến mức tối đa việc oan, sai và phòng chống được việc nhục hình, mớm cung, dụ cung,… hay chưa? Để trả lời những câu hỏi này, thiết nghĩ phải làm rõ những vấn đề sau đây:
      Một là, về lịch sử và nội dung biểu hiện của “quyền im lặng”.
      Kết quả nghiên cứu công bố tại hội thảo do Liên đoàn Luật sư Việt Nam tổ chức mới đây cho thấy, các học giả thuộc hệ   thống   thông   luật   (Common   Law) nhận  định  “quyền  im  lặng”  có thể  ra đời từ giữa thế kỷ 17 ở nước Anh, như là sự phản kháng đối với Tòa án cung đình  (Star  Chamber)  hay  Tòa  án  giáo hội (Court of High Commission), đặc biệt chống lại việc áp dụng cực hình hoặc ép buộc khai báo, xét xử bí mật, không có luật sư bào chữa hoặc luật sư chỉ có quyền bào chữa hạn chế. Quyền này dựa trên quyền “không tự buộc tội” của bị cáo. Còn các học giả thuộc hệ thống dân luật (Civil Law) thì cho rằng quyền im lặng bắt nguồn từ “quyền suy đoán vô tội”, nguyên tắc “ai buộc tội, người đó phải chứng minh” của luật La Mã cổ đại2. Tuy vậy, phần đông nhiều người vẫn hiểu quyền im lặng xuất phát từ lời cảnh báo Miranda đã trở thành án lệ theo một phán quyết ngày 13/6/1966 của Tòa án tối cao Hoa Kỳ trong vụ Miranda kiện Arizona. Theo đó, quyền im lặng bắt nguồn từ chính án thứ 5 (điều sửa đổi thứ 5 của Hiến pháp) của nước Mỹ, trong đó có câu: “Không người nào lại bị bắt buộc phải làm chứng chống lại mình”3. Nói cách khác, Hiến pháp Mỹ nhìn nhận quyền được tự bảo vệ mình của công dân. Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã khuyến cáo cảnh sát rằng, trước khi thẩm vấn, cảnh sát phải thông báo cho nghi phạm hình sự biết những quyền của họ như sau: “Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi. Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa. Anh có quyền có luật sư trước khi khai báo với cảnh sát và luật sư sẽ hiện diện khi cảnh sát thẩm vấn anh. Nếu anh không thể tìm được luật sư, anh sẽ được cung cấp một luật sư trước khi trả lời các câu hỏi. Anh có thể trả lời câu hỏi khi không có luật sư, nhưng anh vẫn có quyền ngưng trả lời bất cứ lúc nào để chờ sự có mặt của luật sư”4. Như vậy, bản chất và nội dung của quyền im lặng có thể được hiểu là không ai bị buộc phải nói những gì chống lại mình và họ có thể từ chối trả lời những câu hỏi của nhà chức trách cho tới khi có luật sư đại diện cho quyền lợi của họ.
      Hai là, Pháp luật Việt Nam đã có quy định về quyền im lặng hay chưa?
      Ở Việt Nam, nghiên cứu các quy định tại Điều 71 Hiến pháp Việt Nam 1992; Điều 9, Điều 10 Bộ Luật TTHS 2003; khoản 2 Điều 48, Điều 49, Điều 50 của Bộ luật TTHS 2003; Điều 31 Hiến pháp Việt Nam 2013, chúng tôi cho rằng những quy định trên đã cơ bản thể hiện được nội hàm của quyền im lặng bởi vì đó là những nội dung biểu hiện của nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong Hiến pháp, trong Bộ luật TTHS. Hơn nữa, từ các quy định của  Bộ luật TTHS cũng cho thấy người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng có quyền biết lý do mình bị tạm giữ, quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì và quyền trình bày lời khai. Có chăng là pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ ràng quyền im lặng trong một Điều luật cụ thể cho dễ hiểu mà thôi.
      Ba là, Tại sao cần quy định về quyền im lặng trong TTHS?
      Lý giải cho câu hỏi này, hiện đang có một số quan điểm như sau:
      Thứ nhất, nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu khẳng định ý nghĩa của qui định này trước hết là để hạn chế việc bức cung, mớm cung và nhục hình. Giải thích cho luận điểm này, những người nghiên cứu cho rằng, người bị bắt, tạm giam, bị can, bị cáo thường ở vào vị trí yếu thế so với các nhà điều tra dạn dày kinh nghiệm. Trong quá trình điều tra có sự không tương xứng giữa cơ quan điều tra, điều tra viên và người bị điều tra. Sự bất tương xứng này thể hiện ở nhân lực, phương tiện, các thông tin được thu thập, kiến thức chuyên môn, thậm chí là cả khả năng sử dụng bạo lực của mỗi bên. Các cán bộ điều tra có nhiều phương tiện để thu thập bằng chứng, có quyền không cho người bị điều tra biết được các thông tin mà họ đã có, có kiến thức chuyên sâu về pháp lý hình sự và kỹ thuật thẩm vấn... Ngược lại, người  bị  điều  tra  luôn  yếu thế hơn cán bộ điều tra vì trong nhiều trường hợp, họ bị giam cách ly khỏi thế giới bên ngoài, không có các kiến thức pháp lý về hình sự và không biết liệu các kỹ thuật dẫn dụ trong hỏi cung có đúng pháp luật không. Đồng thời, xét về mặt pháp luật thì phần lớn những người bị bắt giam, khởi tố… có nhiều hạn chế về hiểu biết pháp luật và đang bị khủng khoảng, lo lắng về tinh thần nên rất dễ bị rơi vào “bẫy” của các điều tra viên. Trong tình trạng đó, họ thường hay trình bày lời khai nhận tội (tự buộc tội mình) theo gợi ý của các điều tra viên. Đặc biệt có trường hợp, nếu người bị tạm giữ, bị can, không khai theo “sự gợi ý” của điều tra viên liền bị đánh, bị ép buộc phải viết theo gợi ý hay chúng ta còn gọi là bức cung, nhục hình. Chẳng hạn như vụ việc ông Nguyễn Thanh Chấn vừa qua là một ví dụ. Cho nên, trong những trường hợp trên đây, nếu có luật sư tham gia hỏi cung ngay từ đầu thì sẽ có thể hạn chế được bức cung, nhục hình. Như vậy, cần phải quy định quyền im lặng trong luật TTHS và cần phải khẳng định rằng quyền im lặng gắn bó chặt chẽ với quyền bào chữa của người bị tình nghi phạm tội (bị cáo, bị can, người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam).
      Thứ hai, ở một khía cạnh khác, có quan điểm cho rằng nếu xem xét trên lĩnh vực trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước thì quyền im lặng cũng góp phần tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác điều tra, truy tố và xét xử. Vì lẽ, khi đã áp dụng quyền im lặng, các cơ quan tư pháp phải nâng cao trách nhiệm và năng lực trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác khám nghiệm hiện trường, thu thập dấu vết, tài liệu, hỏi nhân chứng, giám định kỹ thuật và các nguồn thông tin khác về nghi phạm… Do đó, việc quy định và thực hiện quyền im lặng chỉ làm cho cơ quan tư pháp tốt hơn mà thôi.
Chúng tôi cho rằng phải xác định rõ ràng quyền im lặng không bao giờ là tuyệt đối. Quyền im lặng không đồng nghĩa  với  việc  “im  như  thóc”,  không nói gì, không khai gì, không trả lời gì, không làm gì khi Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng yêu cầu người bị tình nghi phạm tội thực hiện những nghĩa vụ của họ theo đúng quy định của pháp luật. Phải hiểu rằng người bị  tình  nghi  phạm  tội,  người  bị  điều tra có quyền im lặng cho tới khi họ có được các công cụ bảo vệ khác mà pháp luật cung cấp hoặc tạo điều kiện cho họ, chứ không phải là mọi trường hợp đều sử dụng quyền im lặng. Pháp luật Hình sự hiện hành cũng đã có quy định: Khai báo thành khẩn là một tình tiết giảm nhẹ (điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS). Cho nên, nếu hiểu trường hợp nào cũng thực hiện quyền im lặng thì chính quy định đó đã tước đi quyền được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo chính sách hình sự của nhà nước ta. Vậy câu hỏi đặt ra là trường hợp nào nên im lặng, trường hợp nào không? Chẳng hạn, một người bị bắt quả tang đang thực hiện hành vi cướp tài sản hoặc trộm cắp tài sản thì họ vẫn có thể sử dụng quyền im lặng, nhưng nếu kết quả điều tra xác minh được động cơ, mục đích phạm tội và nhân thân của họ thì họ sẽ không được hưởng tình tiết giảm nhẹ, do không thành khẩn khai báo. Vì vậy, trong trường hợp này họ không nên thực hiện quyền im lặng. Bên cạnh đó, thực tiễn cho thấy có nhiều trường hợp phạm tội quả  tang, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, vụ án có đồng phạm, khi tạm giữ người tình nghi phạm tội, phải nhanh chóng lấy lời khai để truy bắt kẻ đồng  phạm ngay. Trong trường hợp này nếu cứ máy móc chờ luật sư có mặt mới hỏi hoặc người bị tình nghi sử dụng quyền im lặng, thì sẽ không đảm bảo cho nguyên tắc đấu tranh phòng chống tội phạm là nhanh chóng, khẩn trương, triệt để,… kịp thời ngăn chặn những hậu quả do tội phạm gây ra.
      Mặt khác, nếu ai đó cho rằng việc quy định và thực hiện quyền im lặng sẽ chống được oan sai trong TTHS thì cũng không hẳn đúng. Bởi vì, thực tiễn cho thấy, tại các nước văn minh, họ đã áp dụng quyền im lặng từ rất lâu song cũng còn nhiều trường hợp oan, sai xảy ra, trong đó có trường hợp oan rất nghiêm trọng (như ở Mỹ, Nhật…). Giáo sư Anna C.Conley, chuyên gia pháp luật Mỹ, trong một trả lời phỏng vấn báo chí đã nói: “Trong lịch sử tố tụng Mỹ 15 năm qua có khoảng 250 vụ án mà công dân bị kết án oan hoặc bị xét xử sai. Nhưng dường như không có những vụ án oan kiểu do không áp dụng đúng quyền im lặng. Bởi, đó sẽ là lợi thế cho bị can, bị cáo vì họ sẽ tận dụng điều đó để bác bỏ những bằng chứng của bên buộc tội. Những vụ án oan ở Mỹ phần lớn là do công tố viên không cung cấp đủ thông tin của vụ án cho luật sư theo đúng quy định. Quyền im lặng không phải giải pháp kiềm chế oan sai”5. Về vấn đề này chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của TS. Đặng Quang Phương, nguyên Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đó là không hoàn toàn đồng ý với quan điểm cho rằng quyền im lặng là vũ khí để chống oan sai. Bởi vì quyền im lặng có thể xảy ra cả trong hai trường hợp: 1) Trường hợp thứ nhất, chính tôi là người thực hiện tội phạm, nhưng tôi không khai và quyền im lặng trong trường hợp này là một trong những phản xạ “bảo vệ tự thân” vì nếu khai đúng sự thật hoặc khai không đúng sự thật thì đều là tự chống lại mình và còn có thể làm hại người khác; 2) Trường hợp thứ hai, tôi không phải là người thực hiện tội phạm và quyền im lặng trong trường hợp này là tôi có biết gì đâu mà khai? Nếu bắt tôi khai thì tôi phải khai những gì không có thật, do tôi tự nghĩ ra hoặc theo sự “mớm cung” của người tiến hành tố tụng6. Hơn nữa, chúng ta cần phải lưu ý rằng đoạn cuối của bản cung thường được ghi theo mẫu sau: “Lời khai này do tôi tự nguyện khai báo, tôi đã được đọc lại, công nhận Cán bộ điều tra ghi đúng lời khai của tôi, tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai này”. Như vậy, rõ ràng việc lấy lời khai, ghi bản cung của Cơ quan Điều tra sẽ không vi phạm vào quyền im lặng, vì do bị can tự nguyện khai báo. Khi ra tòa, nếu bị cáo nói rằng do bị ép buộc mới khai như vậy thì cũng chẳng có gì để làm căn cứ chứng minh cho việc bị cáo cáo không tự nguyện mà do ép buộc.
      Hiến pháp Việt Nam 2013 khẳng định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi đượ chứng minh theotrình tự luật định và có bản án kết tội của  Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (khoản 1, Điều 31). Khi Việt Nam đã quy định trong Hiến pháp và đang từng bước yêu cầu  thực  hiện  quyền  suy  đoán  vô  tội (quyền giả định vô tội) này cũng chính là đang thực thi quyền im lặng đã được bao hàm trong đó. Do vậy, chúng tôi cho rằng dù Bộ luật TTHS sửa đổi có quy định rõ về quyền im lặng hay không thì việc phải bảo đảm nội dung quyền này vẫn là đương nhiên, nhằm thực hiện các cam kết của Việt Nam với pháp luật quốc tế. Bởi vì Việt Nam đã là thành viên của Công ước 1966 về các quyền dân sự, chính trị của Liên hợp quốc từ 24/9/1982. Mặc dù trong Công ước không đề cập trực tiếp khái niệm “quyền im lặng”, nhưng tại điều 14.3 (g) đã quy định “quyền không bị buộc phải cung khai bất lợi cho mình và quyền không thú tội”7. Đối với nước ta, cơ sở vật chất của các cơ quan tư pháp còn gặp nhiều khó khăn, số lượng luật sư còn rất khiêm tốn, năng lực, trách nhiệm đội ngũ cán bộ tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu, đang trong quá trình đổi mới về tổ chức và hoạt động nên việc quy định “quyền im lặng” như thế nào và lộ trình thực hiện ra sao cũng phải được xem xét một cách rất thận trọng. Để mỗi quy định của pháp luật khi được ban hành sẽ có sức sống trong xã hội, vừa phải bảo đảm quyền con người, quyền dân chủ của công dân nhưng cũng phải phục vụ yêu cầu cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Tại phiên thảo luận chiều ngày 27/5/2015 ở các Tổ đại biểu Quốc Hội về dự án Bộ luật TTHS (sửa đổi), Thứ trưởng thường trực Bộ Công an, Thượng tướng Đặng Văn Hiếu từng phát biểu:
      “Luật cần đảm bảo quyền dân chủ cho dân nhưng cũng phải tạo điều kiện cho cơ quan tư pháp làm việc, nếu không chúng ta sẽ “bó tay” trong cuộc đấu tranh chống tội phạm”. Thực tế cho thấy, việc chứng minh tội phạm phải dựa vào  nhiều nguồn chứng cứ, tài liệu khác nhau chứ không phải chỉ căn cứ vào bản  cung của người bị bắt, người bị tạm giam, bị can, bị cáo. Bên cạnh đó, có nhiều vụ án phạm tội nghiêm trọng, bị bắt quả tang với nhiều người tham gia nhưng khi Cơ quan Công an bắt can phạm lại không lấy được lời khai ngay để truy bắt tiếp các can phạm khác vì hạn chế bởi quyền im lặng thì tình hình trật tự xã hội sẽ hết sức phức tạp. Nghĩa là, pháp luật phải được xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện một cách hài hòa giữa bảo vệ quyền con người nhưng đồng thời cũng phải phục vụ công tác giữ gìn trật tự an toàn xã hội.
      Thiết nghĩ, việc thể hiện thành lời văn, cụ thể hóa Hiến pháp 2013 như những quy định của các Điều 52 đến Điều 55 Dự thảo Bộ luật TTHS sửa đổi8 là cơ bản phù hợp. Quy định này sẽ góp phần chính thức hóa và bảo vệ tốt hơn, hiệu quả hơn quyền con người, quyền công dân. Sự đảm bảo quyền này cũng sẽ nâng cao tính nhân bản của nền tư pháp XHCN cũng như nâng cao tính chuyên nghiệp của Cơ quan Điều tra. Đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu về một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, “pháp luật mang tính tối thượng, pháp luật vị nhân sinh” trong điều kiện chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Tác giả bài viết: ThS. Lê Quang Thành, Giảng viên Bộ môn Pháp luật - Trường Đại học CSND
Nguồn tin: Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 68 (tháng 11/2015)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 6 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc