Rss Feed
Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh
Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật
Bông Hồng Xanh
tap chi

Thống kê

  • Đang truy cập: 34
  • Hôm nay: 4378
  • Tháng hiện tại: 148789
  • Tổng lượt truy cập: 3174791

Trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Đăng lúc: Thứ ba - 10/04/2018 21:48 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
       Có thể khẳng định, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, con người và vấn đề bảo đảm quyền con người là trung tâm của mọi hoạt động xã hội. Quan điểm xuyên suốt thể hiện trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước, trong đó trẻ em, người dưới 18 tuổi được ví như măng non, là nguồn hạnh phúc của gia đình, tương lai của dân tộc, chủ nhân kế tục sự nghiệp phát triển đất nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhấn mạnh: “…Chú trọng cải thiện điều kiện sống, lao động và học tập của thanh niên, thiếu niên, giáo dục và bảo vệ trẻ em…”1. Đối với người dưới 18 tuổi nói chung, trẻ em nói riêng, quan điểm của Nhà nước ta là bảo vệ, chăm sóc và giáo dục nhằm giúp họ phát triển về thể chất lẫn tinh thần một cách tốt nhất. Điều 37 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 xác định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em”. Điều 5 Luật trẻ em năm 2016 quy định: “...Không phân biệt đối xử với trẻ em. Bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em trong các quyết định liên quan đến trẻ em. Tôn trọng, lắng nghe, xem xét, phản hồi ý kiến, nguyện vọng của trẻ em...”. Trên bình diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, thì Hiến pháp và pháp luật luôn coi trẻ em, người dưới 18 tuổi là đối tượng cần bảo vệ, chăm sóc và quan tâm đặc biệt đối với cả hai trường hợp, khi họ là chủ thể của tội phạm cũng như khi họ là nạn nhân của tội phạm. Nhận thức này đã được thể chế hóa trong các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự cũng như pháp luật về phòng ngừa tội phạm. Đây chính là cơ sở pháp lý cho việc tiến hành các hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đảm bảo phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và giáo dục cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội.
          Tội phạm và trách nhiệm hình sự (hình phạt, các biện pháp tư pháp, miễn hình phạt, án tích) là những chế định cơ bản, trung tâm của Luật hình sự. Theo nguyên tắc chung, tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hình sự chính là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước. Với ý nghĩa đó, trách nhiệm hình sự được đặt ra nhằm bảo đảm cho hoạt động xử lý người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội một cách kịp thời, nhanh chóng và công minh. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi tập trung phân tích, luận giải, đánh giá những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội. Thiết nghĩ việc làm này là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi mà vấn đề quyền của người dưới 18 tuổi đang được dư luận xã hội quan tâm, đặc biệt là trong trường hợp người dưới 18 tuổi trở thành đối tượng tác động của các hoạt động tố tụng hình sự. Trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội được đề cập trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có nội dung pháp lý sâu sắc, phạm vi điều chỉnh rất rộng nhưng tập trung vào một số vấn đề cơ bản, cốt lõi dưới đây:
          Thứ nhất, về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
          Chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội xuất hiện và tồn tại gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam. Với sự cân nhắc nhiều yếu tố khác nhau liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội, việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội có những khác biệt đáng kể so với người đã thành niên phạm tội. Sự khác biệt này trước hết được thể hiện trong các quy định về trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội, trong đó quan trọng nhất là quy định về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Cụ thể, việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
          Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm. Phù hợp với sự thiếu hụt và non nớt về kiến thức, kinh nghiệm sống của người dưới 18 tuổi cũng như gắn liền với trách nhiệm của toàn xã hội trong việc giáo dục người dưới 18 tuổi, nguyên tắc này hướng đến trọng tâm của việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội là giáo dục, giúp đỡ để họ trở thành người có ích cho xã hội. Đây là nguyên tắc chung, bao trùm và chi phối nội dung các nguyên tắc còn lại trong xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội, thể hiện tính nhân đạo của hệ thống pháp luật hình sự nước ta và nó hoàn toàn phù hợp với tinh thần của các công ước quốc tế về tư pháp người dưới 18 tuổi. Nguyên tắc này nhằm mục đích bảo vệ quyền của người dưới 18 tuổi và vì lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi. Đây được coi là nguyên tắc cốt lõi của tất cả các hoạt động liên quan đến người dưới 18 tuổi. Điều này đã được ghi nhận tại Điều 3 của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em.
          Các cơ quan có thẩm quyền ưu tiên xem xét áp dụng các biện pháp thay thế xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội bao gồm khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giám sát, giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Như chúng ta đã biết, một trong những nguyên tắc quan trọng trong việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội đó là phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của các em. Vì vậy, việc lựa chọn phương pháp xử lý phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, tạo môi trường phát triển bình thường cho người dưới 18 tuổi phạm tội là vô cùng quan trọng. Trong nhiều trường hợp, việc áp dụng các biện pháp xử lý nằm ngoài hệ thống tư pháp chính thức, mang tính răn đe, giáo dục xã hội (xử lý chuyển hướng) để áp dụng đối với người dưới 18 tuổi mang lại hiệu quả mong muốn và đó là một biện pháp tiến bộ mà hệ thống tư pháp thân thiện với người chưa thành niên đang khuyến khích áp dụng (tại Điều 40 (3)(b) Công ước quốc tế về Quyền trẻ em đã thể hiện điều này).
          Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Nguyên tắc này bổ sung cho nguyên tắc thứ nhất nhằm hạn chế tình trạng trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ cần áp dụng biện pháp xử lý khác nhưng lại bị truy cứu trách nhiệm hình sự và đặc biệt là bị áp dụng hình phạt. Quy định này đòi hỏi sự cân nhắc kỹ của người áp dụng pháp luật khi quyết định hình thức và biện pháp xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm hạn chế tác động tiêu cực của chế tài hình sự, đặc biệt là hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Những trường hợp mà tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cũng như nhân thân người phạm tội thể hiện cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt hay biện pháp tư pháp thì Tòa án vẫn phải lựa chọn biện pháp này.
          Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp xử lý chuyển hướng hoặc việc áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không bảo đảm mục đích giáo dục, phòng ngừa.
          Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Trong hệ thống hình phạt ở nước ta, đây là hai hình phạt thể hiện tính trừng trị cao nhất: Một hình phạt mang tính chất là tước tự do suốt đời và một hình phạt tước quyền sống của người bị kết án. Với tính chất đó, các hình phạt này chỉ được áp dụng trong những trường hợp hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội cho thấy người đó khó hoặc không còn khả năng cải tạo, giáo dục. Những hình phạt này trái với đường lối xử lý chung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
          Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng và trong thời gian thích hợp ngắn nhất. Quy định này phù hợp với đánh giá về sự thiếu hoàn thiện trong nhận thức và kinh nghiệm sống của người dưới 18 tuổi và cũng là biểu hiện của đường lối xử lý khoan hồng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm hạn chế tác động tiêu cực của môi trường trại giam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đồng thời, quy định này cũng là sự thể chế hóa các nguyên tắc cơ bản của tư pháp hình sự người dưới 18 tuổi được ghi nhận trong Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, theo đó, không có trẻ em nào bị tước quyền tự do một cách bất hợp pháp hoặc tùy tiện ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tư pháp người dưới 18 tuổi.
          Không áp dụng hình phạt tiền đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội. Người trong độ tuổi này thường chưa tham gia lao động để có tài sản nên việc hiểu đúng giá trị tài sản đối với cuộc sống còn hạn chế. Việc áp dụng hình phạt tiền đối với họ có thể không phát huy được hiệu quả giáo dục, cải tạo của loại hình phạt này.
          Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Các hình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ là các hình phạt chính. Quy định này phù hợp với nguyên tắc tiết chế hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
          Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Quy định này thể hiện tính khoan hồng cao hơn trong xử lý hình sự người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội so với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
          Thứ hai, về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi
          Tinh thần xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải thể hiện sâu sắc tính nhân đạo, vì vậy, tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
          “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
          2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”.
          Trong tương quan so sánh với Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. 2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” thì Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã thu hẹp phạm vi các tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, theo đó người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại 28 điều luật. Việc quy định này thể hiện rõ chính sách hình sự khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
          Thứ ba, về trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội
          Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
          “1. Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.
          2. Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
          3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự”.
          Như vậy, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã thu hẹp phạm vi các tội phạm mà người dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Thay vì người dưới 18 tuổi chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng, một tội đặc biệt nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm hình sự, thì hiện nay người 18 tuổi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội đối với các tội phạm quy định tại 25 điều luật của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bên cạnh đó, đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội giết người hoặc tội cướp tài sản thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định theo hướng mở rộng phạm vi loại tội phạm mà người dưới 18 tuổi có thể phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, điều đó có nghĩa người dưới 18 tuổi không chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với việc chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng mà có thể còn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với việc chuẩn bị phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng. Quy định này nhằm thể chể hóa nguyên tắc mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật, đồng thời, đáp ứng thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong những năm sắp tới.
          Thứ tư, về các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự
          Như chúng ta đã biết, một trong những nguyên tắc quan trọng trong việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội đó là phải bảo đảm các lợi ích tốt nhất của các em. Vì vậy, việc lựa chọn phương pháp xử lý phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, tạo môi trường phát triển bình thường cho người dưới 18 tuổi phạm tội là vô cùng quan trọng. Trong nhiều trường hợp, việc áp dụng các biện pháp xử lý nằm ngoài hệ thống tư pháp chính thức, mang tính răn đe, giáo dục xã hội (xử lý chuyển hướng) để áp dụng đối với người dưới 18 tuổi mang lại hiệu quả mong muốn và đó là một đòi hỏi của Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em và các chuẩn mực quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên. Cách thức xử lý không viện dẫn đến các thủ tục tố tụng chính thức đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đang được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới, đã và đang đem lại nhiều hiệu quả trong việc giáo dục và phòng ngừa tội phạm vị thành niên cũng như đảm bảo lợi ích cộng đồng2.
          Có thể khẳng định, Khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) được xem là định hướng ban đầu cho việc xử lý chuyển hướng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, tạo cơ sở cho các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét miễn trách nhiệm hình sự và giao người dưới 18 tuổi cho gia đình, cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục. Tuy nhiên, việc thiếu các quy định rõ ràng, cụ thể đã cản trở việc áp dụng xử lý chuyển hướng trong thực tiễn. Ngoài ra, thực tiễn xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng như các chế tài không giam giữ thiếu bài bản, không hiệu quả do thiếu các dịch vụ hỗ trợ và các nguồn nhân lực tại cộng đồng hạn chế. Đồng thời, việc đa dạng hóa các biện pháp xử lý chuyển hướng là cần thiết nhằm tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền được lựa chọn biện pháp xử lý chuyển hướng phù hợp nhất đối với từng trường hợp cụ thể. Ngoài ra, cũng cần phải lưu ý rằng, biện pháp xử lý chuyển hướng được xem xét áp dụng với từng trường hợp cụ thể phải phù hợp với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, nhu cầu của người dưới 18 tuổi phạm tội và điều kiện cũng như các loại dịch vụ hỗ trợ tại địa phương nơi người dưới 18 tuổi phạm tội cư trú như tham vấn, kèm cặp, tập huấn kỹ năng sống, hướng nghiệp, dạy nghề3.
          Trong bối cảnh hiện nay, tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, tỷ lệ tái phạm tương đối cao, thực tiễn áp dụng những quy định về tư pháp hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển và thay đổi nhanh chóng về mọi mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, đối ngoại hiện nay và trước những yêu cầu hội nhập quốc tế theo hướng bảo vệ tốt hơn nữa cho người dưới 18 tuổi phạm tội, hệ thống tư pháp hình sự của Việt Nam đã bộc lộ một số hạn chế nhất định như các biện pháp thay thế xử lý chính thức chưa được quan tâm, các quy định chưa thực sự bảo đảm vì lợi ích tốt nhất của trẻ em và tính thân thiện trong quy trình tố tụng cũng như yêu cầu của các chuẩn mực quốc tế về bảo vệ trẻ em... Những bất cập này đặt ra yêu cầu phải xem xét, nghiên cứu để có những sửa đổi, bổ sung kịp thời hệ thống pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói chung, pháp luật liên quan đến hệ thống xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng mà trong đó việc xây dựng một hệ thống các biện pháp chuyển hướng và quy trình xử lý chuyển hướng cụ thể đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là hết sức cần thiết nhằm bảo vệ tốt hơn lợi ích của người dưới 18 tuổi, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cũng như đảm bảo thực thi các nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam.
          Trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nguyên tắc áp dụng xử lý chuyển hướng được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 91, theo đó: 
          “2. Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:
          a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này.
          b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142, 144, 150, 151, 168, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này.
          c) Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án”.
          Đồng thời, các biện pháp xử lý chuyển hướng được quy định từ Điều 92 đến Điều 95, Mục 2, Chương XII với tên gọi: “Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự”. Điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là đã thể chế hóa bằng các quy định cụ thể về nguyên tắc, điều kiện, căn cứ, phạm vi, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, bước đầu tạo ra nền tảng pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp xử lý nằm ngoài thủ tục tố tụng hình sự chính thức đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, huy động được đông đảo các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, công dân tham gia vào công tác cảm hóa, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội, thực hiện có hiệu quả phương châm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong quá trình cải cách tư pháp, xây dựng và thực thi pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
          Thứ năm, về biện pháp tư pháp và hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
          Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng tại Điều 96 đảm bảo nguyên tắc chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng hoặc biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không đảm bảo hiệu quả giáo dục, phòng ngừa. Theo đó, Tòa án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng từ 01 năm đến 02 năm đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần đưa người đó vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ. Người được giáo dục tại trường giáo dưỡng phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường. Đồng thời, để khuyến khích người dưới 18 tuổi tích cực chấp hành biện pháp này và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của Trường giáo dưỡng được giao trách nhiệm quản lý giáo dục, Tòa án có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại trường giáo dưỡng nếu người dưới 18 tuổi đã chấp hành được một phần hai thời hạn.
          Với tư cách là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), do Tòa án quyết định áp dụng đối với người dưới 18 tuổi nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người dưới 18 tuổi. Hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ có thể là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn với căn cứ, phạm vi, điều kiện áp dụng có sự thay đổi đáng kể trong sự so sánh với quy định của của Bộ luật Hình sự năm 1999. Cụ thể:
          Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định. Đồng thời, hình phạt tiền không chỉ được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng mà còn được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng rất nghiêm trọng.
          Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định cụ thể việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Trước đây, trong Bộ luật Hình sự năm 1999, hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ áp dụng đối với trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng thì nay quy định cả đối với cả trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng (Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015): “Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng”.
          Việc quy định như trên nhằm thể chế hóa tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo hướng giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm và chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở Việt Nam hiện nay.
          Thứ sáu, về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích
          Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa có quy định đặc thù về vấn đề quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi, do đó dẫn đến sự không thống nhất trong quá trình áp dụng. Một số nơi vận dụng quy định tại các Điều 17, 18, 52 Bộ luật Hình sự 1999 để áp dụng, một số nơi cho rằng không có cơ sở pháp lý để quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi. Để giải quyết vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, cùng với việc sửa đổi Điều 17 về chuẩn bị phạm tội, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung 01 điều (Điều 102) về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đối với người dưới 18 tuổi. Theo đó: Mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội không quá một phần ba mức hình phạt được quy định trong khung hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội trong điều luật được áp dụng. Mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chuẩn bị phạm tội không quá một phần hai mức hình phạt được quy định trong khung hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội trong điều luật được áp dụng. Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần ba mức hình phạt quy định tại Điều 100, Điều 101 và mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần hai mức hình phạt quy định tại các Điều 99, 100 và 101 của Bộ luật Hình sự năm 20154.
          Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự 1999 chỉ mới quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 75) mà chưa có quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án áp dụng đối với người dưới 18 tuổi. Tại Điều 103 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, Điều 104 quy định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đã cụ thể hơn quy định trước đây, thay cụm từ “tội nặng nhất” theo quy định cũ thành quy định “mức hình phạt Tòa án tuyên nặng hơn...”.
          Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Đây là biện pháp trả tự do sớm có điều kiện áp dụng đối với người đang chấp hành hình phạt tù để họ được cải tạo, sửa chữa lỗi lầm với sự giúp đỡ và giám sát của gia đình, các cơ quan, đoàn thể xã hội. Điều 106 quy định: “Người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù, nếu không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 66 của Bộ luật này có thể được tha tù trước hạn khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Phạm tội lần đầu; b) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt; c) Đã chấp hành được một phần ba thời hạn phạt tù; d) Có nơi cư trú rõ ràng”.
          Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã hoàn thiện chế định xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi. Tại Điều 107 quy định:
          “1. Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
          a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi;
          b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;
          c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này.
          2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
          a) 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
          b) 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
          c) 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
          d) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm”.
          Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định rõ việc không coi một người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc người từ đủ 16 tuổi nhưng dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng do vô ý hay người dưới 18 tuổi bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng là có án tích. Trong Bộ luật Hình sự năm 1999, tất cả người dưới 18 tuổi đều xem là có án tích và chỉ được xóa đương nhiên sau một thời gian nhất định. Đây là chế định mang tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc, hạn chế tối đa những trường hợp người dưới 18 tuổi sau khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án vẫn mang án tích, tạo điều kiện thuận lợi cho các em tái hoà nhập cộng đồng, sớm trở thành người có ích cho xã hội.
          Với những phân tích, luận giải, đánh giá một cách khoa học bằng những căn cứ luận sắc bén nêu trên, chúng tôi cho rằng, trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội quy định trọng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo xuyên suốt là giúp đỡ các em sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội. Đây là những nguyên tắc quan trọng, thể hiện sự nhân đạo của hệ thống pháp luật hình sự nước ta và nó hoàn toàn phù hợp với tinh thần của các công ước quốc tế về tư pháp người dưới 18 tuổi. Tất cả các nguyên tắc đều nhằm mục đích bảo vệ quyền của người dưới 18 tuổi và vì lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi. Trên cơ sở những phân tích về tâm sinh lý của người dưới 18 tuổi phạm tội, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã dành hẳn một chương quy định cụ thể về đường lối xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội bao gồm từ nguyên tắc xử lý đến hệ thống các chế tài, biện pháp tư pháp áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, giảm mức hình phạt đã tuyên, xóa án tích. Về cơ bản, các quy định này đã nội luật hóa các Điều ước quốc tế về quyền con người mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, phù hợp với đối tượng áp dụng là người dưới 18 tuổi - những người chưa phát triển đầy đủ và toàn diện về thể chất, trí tuệ, họ bị hạn chế về trình độ nhận thức, kinh nghiệm sống, thiếu những điều kiện về bản lĩnh tự lập, khả năng tự kiềm chế chưa cao nên dễ bị kích động, lôi kéo vào những hoạt động phạm tội. Thiết nghĩ vấn đề quan trọng trong bối cảnh hiện tại đối với các cơ quan tư pháp hình sự là cần tiếp tục thông tin, tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và giải thích quy phạm pháp luật hình sự liên quan đến trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội đảm bảo việc nhận thức và áp dụng pháp luật một cách đồng bộ, thống nhất đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trên đây là một vài luận điểm về trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội thể hiện trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xin trao đổi cùng các chuyên gia pháp lý, các nhà khoa học và đồng nghiệp. 
 
Tác giả bài viết: Đại tá, PGS, TS. Trần Thành Hưng
Nguồn tin: * Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 99
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (28/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (13/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)

Số: Chỉ thị số 14-CT/TW
Tên: (Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng)

Ngày BH: (18/07/2017)

Số: 1884/QyĐ-T48
Tên: (Quy định về văn hóa ứng xử của cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Trường Đại học CSND)

Ngày BH: (12/10/2017)

Số: 27/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân)

Ngày BH: (21/08/2017)

Số: 124/2015/NĐ-CP
Tên: (NGHỊ ĐỊNH SỐ 185/2013/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2013)

Ngày BH: (14/11/2013)