Rss Feed

Tìm hiểu về Biện pháp áp giải được quy định trong bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Đăng lúc: Thứ tư - 19/06/2019 11:13 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung mở rộng hơn về phạm vi và thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp áp giải. Bài viết phân tích và cung cấp những nội dung kiến thức cơ bản của biện pháp áp giải trong Bộ luật Tố' tụng hình sự năm 2015.
         Theo quy định tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, áp giải được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử. Như vậy đối tượng của biện pháp áp giải là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo và mục đích của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này là buộc những người trên phải có mặt tại địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử.
        Biện pháp áp giải được quy định tại: Khoản 1 Điều 127, Khoản 3 Điều 182, Khoản 1 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Ngoài ra, đến nay chưa có quy định mới về quy trình áp giải. Hiện nay việc áp giải ở địa phương vẫn dựa trên cơ sở pháp lý quy định tại Điều 8, Điều 9 Quyết định số 1502/2008/ QĐ-BCA của Bộ Công an ngày 10 tháng 9 năm 2008 về ban hành quy trình bắt, áp giải bị can, bị cáo, người có quyết định thi hành án phạt tù, dẫn giải người làm chứng của lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Trên cơ sở các văn bản pháp lý nêu trên, có thể xác định một số vấn đề liên quan đến biện pháp áp giải như sau:
        Thứ nhất, về đối tượng và điều kiện áp dụng: Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định rõ ràng đối tượng và điều kiện áp dụng của biện pháp áp giải, cụ thể:
        Khoản 1, Điều 127 quy định: “Áp giải có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội”.
        Khoản 3 Điều 182 quy định: “Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc biểu hiện trốn tránh thì Điều tra viên có thể ra quyết định áp giải”.
        Khoản 1 Điều 290 Bộ luật này cũng quy định: “Bị cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án trong suốt thời gian xét xử vụ án; nếu vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì bị áp giải”.
        Về đối tượng áp dụng: Bộ luật TTHS năm 2015 đã mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng của biện pháp áp giải so với Bộ luật TTHS năm 2003. Theo quy định của BLTTHS 2015, đối tượng của biện pháp áp giải là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội. Người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Trong khi đó, Bộ luật TTHS năm 2003 trước đây, chỉ có bị can, bị cáo mới có thể bị áp giải nếu thuộc trường hợp luật định.
        Về điều kiện áp dụng: Khi ra quyết định áp giải thì chỉ áp dụng áp giải cho người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị can hoặc bị cáo khi họ có giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Toà án và không có mặt tại địa điểm theo yêu cầu đúng thời gian quy định mà không có lý do bất khả kháng hay trở ngại khách quan cản trở việc có mặt hoặc có biểu hiện bỏ trốn thì sẽ bị áp dụng biện pháp áp giải.
        Thứ hai, về thẩm quyền áp dụng: Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp áp giải bao gồm Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định áp giải. Việc trao quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế áp giải cho những người trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra như Điều tra viên, Kiểm sát viên không chỉ góp phần giải quyết vụ án được nhanh chóng, mà quan trọng hơn, sẽ tăng cường tính độc lập, nâng cao trách nhiệm của những người “trực tiếp” tiến hành tố tụng. Đây cũng là xu hướng lập pháp tố tụng hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới. Bên cạnh đó, Bộ luật TTHS năm 2015 cũng đã quy định cụ thể các cơ quan có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải, đó là Cơ quan Công an nhân dân và Quân đội nhân dân có thẩm quyền.
        Thứ ba, về trình tự, thủ tục áp dụng: Theo trình tự, thủ tục của Bộ luật TTHS năm 2015, biện pháp áp giải khi thực hiện đều phải có Quyết định của chủ thể có thẩm quyền với nội dung cụ thể bao gồm, ngày tháng năm ban hành quyết định, số quyết định, căn cứ áp dụng, nhân thân của đối tượng bị áp dụng biện pháp áp giải (ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú), thời gian, địa điểm áp giải và chữ ký của người có thẩm quyền ra quyết định. Bên cạnh đó, người thi hành quyết định áp giải phải đọc, giải thích quyết định và lập biên bản về việc áp giải. Biên bản phải ghi rõ địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm tiến hành, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc, nội dung của hoạt động áp giải, người thực hiện áp giải, đối tượng bị áp giải, người chứng kiến... và phải có chữ ký của những người liên quan đến hoạt động áp giải. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, nếu như một số biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam đòi hỏi trong một số trường hợp phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát trước khi thi hành thì Bộ luật TTHS năm 2015 lại cho phép các chủ thể có thẩm quyền được phép ra quyết định áp giải, dẫn giải mà không cần có sự phê chuẩn từ Viện kiểm sát.
        Thứ tư, một số lưu ý khi tiến hành áp giải: Để đảm bảo cho biện pháp áp giải vừa mang tính cưỡng chế nghiêm khắc, vừa thể hiện tính nhân đạo, mềm mỏng trong các tình huống có thể, khoản 6, Điều 127 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: “Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế”. Quy định trên quy định thủ tục tố tụng riêng của áp giải trong một số trường hợp đặc biệt đó là: Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm. Ban đêm được tính từ 22 giờ tối hôm nay đến 6 giờ sáng hôm sau. Đây là thời điểm nhạy cảm cho các hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là các hoạt động có ảnh hưởng đến thân thể, sức khoẻ, cũng như danh dự, nhân phẩm của người khác dễ dẫn đến sự phản ứng, gây dư luận không tốt, ngay cả biện pháp có tính cưỡng chế cao như biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam cũng quy định “không được bắt người vào ban đêm”, do đó việc Bộ luật TTHS không cho phép thực hiện áp giải vào ban đêm là hoàn toàn đúng đắn, đảm bảo cho biện pháp áp giải được thực hiện đúng nguyên tắc pháp luật, đảm bảo quyền con người được tôn trọng tối đa. Một vấn đề mới, thể hiện tính nhân văn, nhân đạo khi quy định biện pháp áp giải của Bộ luật TTHS năm 2015 là việc quy định các đối tượng cụ thể không áp dụng biện pháp áp giải. Các đối tượng đó bao gồm người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế. Những người này hiện có sức khoẻ yếu, tinh thần không ổn định, không đảm bảo cho quá trình di chuyển từ nơi này đến nơi khác, việc áp giải có thể gây ảnh hưởng đến sức khoẻ hoặc có thể gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của họ, từ đó có thể xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
        Với vai trò là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự nên áp giải, cũng mang nhiều ý nghĩa tích cực đảm bảo cho hoạt động tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng diễn ra bình thường:
        Một là, biện pháp áp giải sẽ góp phần tăng cường pháp chế, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của nhân dân, đặc biệt là những người tham gia tố tụng khiến cho họ phải luôn ý thức tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ của mình, bắt buộc phải có mặt theo giấy triệu tập khi có yêu cầu.
        Hai là, biện pháp áp giải giúp cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được diễn ra một cách nhanh chóng, kịp thời và góp phần bảo vệ các quyền lợi cơ bản của người bị buộc tội.
        Ba là, việc áp dụng biện pháp áp giải cũng có những đóng góp tích cực về mặt kinh tế khi tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc cho quá trình giải quyết vụ án. Bởi trên thực tế có nhiều vụ án, Tòa án triệu tập những người tham gia tố tụng gần như đầy đủ nhưng vẫn còn thiếu bị cáo mặc dù những người này đã được triệu tập hợp lệ tuy nhiên vẫn cố tình vắng mặt gây trở ngại cho quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án, gây khó khăn cho hoạt động xét xử của Tòa án. Việc quy định các biện pháp cưỡng chế cũng quy định riêng biệt biện pháp áp giải trong Bộ luật TTHS Việt Nam năm 2015 thể hiện được cái nhìn đầy đủ toàn diện hơn của các nhà lập pháp về biện pháp áp giải cũng như vai trò quan trọng của biện pháp này trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự.
        ----------------------
        Tài liệu tham khảo
        [1]. Bộ Công an (2008), Quyết định số 1502/2008/QĐ-BCA về ban hành quy trình bắt, áp giải bị can, bị cáo, người có quyết định thi hành án phạt tù, dẫn giải người làm chứng của lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc công an nhân dân theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố' tụng hình sự.
        2. Đỗ Hoàng Huy (2017), “Biện pháp áp giải, dẫn giải trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật TPHCM.
        3. Quốc hội (2017) Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
        4. Võ Thị Kim Oanh, Trịnh Duy Thuyên (2016) Hoàn thiện các quy định về biện pháp cưỡng chế trong Bộ luật TTHS 2003, Tạp chí dân chủ và pháp luật.
Tác giả bài viết: Phạm Thị Kiều Chi - Trường Cao đẳng CSND II
Nguồn tin: Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 113
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 01/QĐ-BCĐTW
Tên: (QUYẾT ĐỊNH VỀ VIỆC BAN HÀNH PHƯƠNG ÁN TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở NĂM 2019)

Ngày BH: (15/08/2018)

Số: 772/QĐ-TTg
Tên: (QUYẾT ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở NĂM 2019)

Ngày BH: (26/06/2018)

Số: 491/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt điều chỉnh chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất răn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050)

Ngày BH: (07/05/2018)

Số: 1250/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030)

Ngày BH: (31/07/2013)

Số: 582/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định về việc phê duyệt đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi ni lông khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020)

Ngày BH: (11/04/2013)

Số: 25/CT-TTg
Tên: (CHỈ THỊ VỀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CẤP BÁCH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG)

Ngày BH: (31/08/2016)

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (15/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (29/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (20/06/2017)