Rss Feed

Menu

Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh
Bông Hồng Xanh
tap chi

Thống kê

  • Đang truy cập: 35
  • Hôm nay: 6871
  • Tháng hiện tại: 121969
  • Tổng lượt truy cập: 2096579

Thực hiện chế định quyền và nghĩa vụ của con người với môi trường, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường

Đăng lúc: Thứ ba - 21/02/2017 19:59 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
       Chế định quyền và nghĩa vụ của con người với môi trường là cơ sở pháp lý nền tảng quan trọng bảo đảm thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền giám sát hoạt động của các bên liên quan đến môi trường và thực hiện nghĩa vụ của con người với các hoạt động bảo vệ môi trường. Việc triển khai thực hiện đầy đủ chế định pháp lý này là giải pháp để phát huy hiệu quả công tác bảo vệ môi trường nước ta giai đoạn hiện nay.
       Trước tính cấp thiết của vấn đề bảo vệ môi trường trên toàn cầu, cộng đồng quốc tế đã có những quan điểm về quyền và nghĩa vụ của con người với môi trường, trong Tuyên bố Stockholm năm 1972 đã nêu “Con người có các quyền cơ bản về tự do, bình đẳng và điều kiện sống tối thiểu trong môi trường trong lành, cho phép con người có cuộc sống có nhân phẩm và hạnh phúc”[1]. Sống trong môi trường trong lành là quyền cơ bản của con người, trong đó mỗi người phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường cho thế hệ hiện tại và tương lai. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về môi trường và phát triển bền vững năm 1992 tại Rio De Janeiro đã nêu “Con người có quyền được sống một cuộc sống lành mạnh và sản xuất trong sự hòa hợp với thiên nhiên”[2]. Chương trình nghị sự 21, cũng quy định “Một trong những điều kiện tiên quyết cơ bản để đạt được sự phát triển bền vững là có sự tham gia rộng rãi của công chúng trong việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường”[3].
       Chế định của Hiến pháp là cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo cho hoạt động bảo vệ môi trường được thực hiện hiệu quả, trước yêu cầu đặt ra trong công tác bảo vệ môi trường, Điều 36 Hiến pháp năm 1980 quy định “Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống”. Điều 29 Hiến pháp năm 1992 quy định “Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường”. Tuy nhiên các bản Hiến pháp này mới quy định về nghĩa vụ của tổ chức, công dân trong công tác bảo vệ môi trường, chưa quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của con người với môi trường.
       Hiện nay đất nước trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực hiện phát triển bền vững, đây là định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Điều 43 Hiến pháp năm 2013 quy định “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”. Chế định này đặt ra mối quan hệ pháp lý về quyền và nghĩa vụ của con người với môi trường, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ta trong việc bảo vệ và phát huy quyền và nghĩa vụ con người với môi trường. Thực tiễn cho thấy quyền được tiếp cận các thông tin, tiếp cận tư pháp và tham gia của công chúng có tác động rất lớn trong việc thực hiện quyền con người với môi trường. Với Chế định này, cộng đồng dân cư đóng vai trò chủ động, tích cực đối với các quyết định, chính sách của Nhà nước liên quan đến môi trường, thực hiện dân chủ hóa các quyết định, chính sách liên quan về môi trường, thông qua việc đưa cá nhân, các nhóm dân cư và những người thường xuyên phải chịu sự tác động và ảnh hưởng bởi ô nhiễm môi trường do các hoạt động được tham gia góp ý trong việc hoạch định chính sách liên quan đến môi trường. Sự tham gia của các bên trong đó có sự giám sát của cộng đồng dân cư nhằm hạn chế tính “áp đặt” của các cơ quan ban hành chính sách, giúp cơ quan nhà nước xây dựng được chính sách về môi trường phù hợp thực hiện hiệu quả công tác bảo vệ môi trường, bảo đảm cân bằng giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Với quy định này mọi người có quyền tham gia giám sát các hoạt động bảo vệ môi trường như: quyền được cập nhật các thông tin về môi trường, góp ý trong việc ban hành các quyết định, chính sách về quy hoạch môi trường, tiếp cận tư pháp về các vấn đề liên quan như quyền được khiếu nại, tố cáo và bồi thường các thiệt hại từ hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Thực hiện quyền được góp ý và giám sát của dân cư với hoạt động của các bên có liên quan, đây còn là giải pháp để khắc phục nguyên nhân các vụ xung đột về môi trường. Bên cạnh quyền là nghĩa vụ, đó là việc phải tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường của công chúng, thực hiện đóng thuế, phí và lệ phí, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của con người với môi trường là yêu cầu cấp bách, bởi lẽ nó góp phần quan trọng trong việc thực hiện đầy đủ quyền con người và nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường hiện nay.
       Để thực hiện hiệu quả chế định “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” tại Điều 43 Hiến pháp 2013, cần thực hiện các mặt công tác sau:
       Một là: Các cơ quan chức năng làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về môi trường, tăng cường công tác giáo dục kiến thức về môi trường, nâng cao nhận thức về quyền được sống trong môi trường trong lành và nghĩa vụ bảo vệ môi tường của cộng đồng dân cư. Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về môi trường, tiếp tục đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục các bậc học. Dán nhãn sản phẩm thân thiện với môi trường, công bố các thông tin về tình hình tuân thủ pháp luật về môi trường của doanh nghiệp đến người dân, người tiêu dùng để tạo sức ép với các doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường. Tổ chức tuyên dương khen thưởng những doanh nghiệp, cá nhân điểm hình thực hiện tốt các hoạt động bảo vệ môi trường.
       Hai là: Tổng thể rà soát và đánh giá hiện trạng hệ thống văn bản luật và văn bản dưới luật hiện hành quy định về bảo vệ môi trường, tiến hành sửa đổi, bổ sung hoàn thiện theo hướng lồng ghép cách tiếp cận quyền con người vào việc hoạch định chính sách và pháp luật liên quan tới môi trường, quy định cụ thể về nghĩa vụ của con người trong hoạt động bảo vệ môi trường. Hoàn thiện các quy định về xử lý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tổ chức, cá nhân về các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Nghiên cứu, bổ sung chi tiết các quy định trong văn bản luật và văn bản dưới luật về quyền của tổ chức, cá nhân, tổ chức chính trị xã hội và đoàn thể quần chúng như: Mật trận tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân… được tham gia góp ý vào quá trình ban hành các quyết định, chính sách liên quan đến môi trường, giám sát chặt hoạt động bảo vệ môi trường; quy định cụ thể hơn về việc thực hiện quyền được tiếp cận các thông tin về môi trường và trách nhiệm của các cơ quan, doanh nghiệp trong việc cung cấp và công khai thông tin về môi trường. Quyền được đền bù thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường tác động, ảnh hưỏng đến sức khỏe, quyền lợi về vật chất, tình thần của dân cư.
       Ba là: Giám sát chặt công tác xử lý hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Trong đó cần xử lý nghiêm những hành vi phạm tội về môi trường gây hậu quả nghiêm trọng. Tăng mức phạt hành chính để đủ sức răn đe sao cho mức phạt phải lớn hơn số tiền mà doanh nghiệp, cơ sở sản xuất bỏ ra để thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường. Với các hành vi không chịu nộp thuế, phí, phải tăng mức phạt lên cao hơn mức thuế, phí mà chủ thể phải đóng. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường, phát huy vai trò giám sát của cộng đồng dân cư, tạo lập đường dây nóng phản ánh về bảo vệ môi trường ở các cấp để kịp thời ghi nhận thông tin phản ánh về các vấn đề liên quan đến môi trường, phục vụ cho việc phát hiện, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
       Bốn là: Đẩy mạnh nghiên cứu để tăng cường việc sử dụng hiệu quả các công cụ kinh tế trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường như thuế, phí, cota ô nhiễm, ký quỹ môi trường... Trong đó quy định về mức phí phải cao hơn chi phí vận hành hệ thống xử lý ô nhiễm và phải tính theo lũy tiến, đảm bảo nguyên tắc xả thải nhiều với nồng độ cao thì chi phí càng cao để khuyến khích các cơ sở giảm thiểu chất thải ra môi trường, trong đó tập trung nghiên cứu định mức thu phí về khí thải đối với cơ sở sản xuất. Thời gian tới tiến hành nghiên cứu xây dựng quy định pháp lý về định mức thu phí nước thải đối với cá nhân và hộ gia đình để tiến hành xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải đối với các hộ gia đình.
       Năm là: Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường các cấp, thành lập các chi cục bảo vệ môi trường ở các địa phương, hình thành phòng Tài nguyên và môi trường ở các huyện chưa có và thiết lập bộ phận chuyên trách quản lý môi trường cấp xã, thậm chí cả cán bộ chuyên trách quản lý môi trường ở thôn, trước mắt cần thành lập ở các địa phương trọng điểm. Đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, nâng cao kiến thức chuyên môn cho cán bộ chuyên trách làm công tác quản lý, trong đó cần tổ chức các chương trình tập huấn chuyên sâu, đẩy mạnh hợp tác quốc tế để nhận được nguồn tài trợ của các tổ chức trên thế giới, đồng thời cần phải tiến hành trao đổi học tập chuyên môn, kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường./.
 

[1] Nguyên tắc 1 - Tuyên bố Stockholm năm 1972
[2] Tuyên bố của Hội nghị thượng đỉnh thế giới về môi trường và phát triển bền vững năm 1992.
[3] Chương 23 - Chương trình nghị sự 21.

Tác giả bài viết: Hoàng Văn Sao - Trường Đại học CSND
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc