Rss Feed
Chào mừng Khai giảng năm học 2020-2021 Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Sửa đổi quy định của bộ luật hình sự liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường theo Hiến pháp năm 2013

Đăng lúc: Chủ nhật - 06/03/2016 09:41 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
       Thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/ TW của Bộ Chính trị và Quyết định   số   34/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng  Chính  phủ  về  bảo  vệ  môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 29/11/2006, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định số 1899/2006/QĐ-BCA(X13) thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Cục Cảnh sát môi trường. Qua gần 10 năm thành lập, Cục Cảnh sát môi trường đã phát hiện và  xử  lý  nhiều  vụ  việc vi  phạm  pháp luật về bảo vệ môi trường. Điển hình là phát hiện và xử lý hành chính Công ty Vedan (Đồng Nai) xả nước thải trực tiếp chưa qua xử lý ra sông Thị Vải; Công ty Tung Kuang (Hải Dương) đặt đường ống ngầm xả thải nước thải sản xuất trực tiếp ra môi trường; Công ty Cổ phần thuộc da Hào Dương xả nước thải vượt quy chuẩn quy định hơn 10 lần ra sông Đông Điền gây  ô  nhiễm  môi  trường  nước  lưu  vực các sông rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống của người dân lưu vực sông (việc phát hiện và xử lý, do vướng mắc hàng rào pháp lý về chứng minh hành vi vi phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nên chưa thể khởi tố các tổ chức, cá nhân trên).
       Việc tham gia các Công ước Cites về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp, Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu hủy chúng góp phần củng cố chứng cứ pháp lý trong công tác đấu tranh với tội phạm vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường mang  tính  chất  xuyên  quốc  gia,  làm nổi rõ vai trò hội nhập quốc tế của Việt Nam. Bên cạnh đó, nội luật hóa các quy định của các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên.
       Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013, có hiệu lực ngày 01/01/2014. Nhằm thực hiện Hiến pháp 2013, triển khai các văn bản chỉ đạo của Quốc hội, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chính Phủ. Bộ tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã tiến hành xây dựng dự thảo Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự thay thế Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 phù hợp với nội dung qui định Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên qui định nhân quyền con người đối với môi trường theo tiêu chí “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong sạch, lành mạnh và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”.
Sau khi nghiên cứu các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Dự thảo Bộ luật Hình sự về bảo vệ môi trường, chúng tôi có một số ý kiến trao đổi như sau:
       1. Về tên gọi của Chương XIX
      Chương XIX - Các tội phạm về môi trường  của  dự  thảo  Bộ  luật  Hình  sự (sửa đổi) gồm 13 Điều (từ Điều 231 đến Điều 243). Theo quy định của Pháp lệnh Cảnh sát môi trường có hiệu lực từ ngày 5/6/2015,  Cảnh  sát  môi  trường  được thành lập từ Trung ương (Cục Cảnh sát môi  trường)  đến  địa  phương  (Phòng Cảnh sát môi trường công an cấp tỉnh, Đội Cảnh sát môi trường Công an cấp huyện), có nhiệm vụ quyền hạn “Tiến hành điều tra các tội phạm về môi trường và tài nguyên, an toàn thực phẩm có liên quan đến môi trường theo quy định của pháp luật”. Do vậy, để đảm bảo tính thống nhất trong việc phân loại nhóm hành vi và xác định thẩm quyền của các Cơ quan điều tra và Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, đề xuất Ban soạn thảo thay đổi tên gọi Chương XIX là “Các tội phạm về môi trường, tài nguyên và an toàn thực phẩm”.
      Đồng thời với việc thay đổi tên gọi Chương XIX, đề xuất chuyển một số Điều luật quy định các tội danh về tài nguyên, an toàn thực phẩm có liên quan đến môi trường từ các chương khác sang Chương XIX một số tội danh cụ thể sau:
      - Điều 195. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm;
      - Điều 196. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh;
     - Điều 197. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi;
      - Điều  225.  Tội  vi  phạm  các  quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác khoáng sản;
      - Điều 226. Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai;
      - Điều 227. Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai;
      - Điều 228. Tội vi  phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng;
      - Điều 229. Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng;
      - Điều 321. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, phát tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân;
      - Điều 322. Tội vi phạm quy định về quản lý chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân;
      - Điều 326. Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác;
      - Điều 328. Tội sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn;
       2.  Về  cấu  thành  tội  phạm  của  các điu luật
     Đề nghị trong tất cả các điều luật quy định tội phạm về môi trường xây dựng theo cấu thành hình thức, người phạm tội chỉ cần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (xả nước thải, khí thải, chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại, phát tán bức xạ…) ở mức độ nghiêm trọng là đủ yếu tố cấu thành tội phạm (cấu thành cơ bản), không cần yếu tố gây hậu quả. Việc gây hậu quả “nghiêm trọng”,  “rất  nghiêm  trọng”,  “đặc  biệt nghiêm trọng” nên quy định trong các cấu thành tăng nặng của từng điều luật.
      Do tính chất, mức độ nguy hiểm của các hành vi cụ thể liên quan đến kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác nhau: Môi trường, lâm nghiệp, thủy sản, y tế… nên trong Bộ luật Hình sự cần tập trung mô tả hành vi và các yếu tố định khung. Hiện nay, Bộ tài nguyên và môi trường đã có Thông tư số 04/2012/ TT-BTNMT ngày 06/5/2012 quy  định tiêu chí xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong đó quy định cụ thể các tiêu chí xác  định cơ sở gây ô nhiễm  môi trường nghiêm trọng về nước thải, khí thải, bụi, tiếng ồn, độ rung, chất thải rắn.
Đề nghị quy định đối với các cá nhân, pháp nhân thực hiện hành vi xả nước thải, khí thải, bụi, tiếng ốn, độ rung, chất thải rắn vi phạm các tiêu chí quy định tại Thông tư số 04/2012/TT-BTNMT được coi là đủ yếu tố cấu thành tội phạm và xem xét xử lý về hình sự.
      3. Về quy định pháp nhân là chủ thể của Luật hình sự
      Đây là xu thế ngày càng được áp dụng ở nhiều quốc gia và việc nghiên cứu, đưa vào áp dụng tại Việt Nam là cần thiết, đáp ứng đòi hỏi của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay. Tuy nhiên, Chương XIX quy định “pháp nhân” là chủ thể của tội phạm ở 05 Điều luật, Cơ quan chủ trì soạn thảo cần nghiên cứu để quy định đủ các điều kiện cần thiết, đặc biệt là kiểm soát tài chính để áp dụng chế tài phạt tiền. Mặt  khác,  cần  nghiên  cứu  quy  định hình phạt tiền đối với pháp nhân của Bộ luật Hình sự đảm bảo tính nghiêm  khắc, răn đe cao hơn so với vi phạm và phạt tiền trong quy định xử lý vi phạm hành chính. Đối với Điều 76 quy định phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân, đề nghị lựa chọn Phương án 2 để đảm bảo ngắn gọn, đầy đủ, tránh liệt kê.
      Để có thể hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự nhằm bảo vệ môi trường, chúng tôi đề nghị sửa đổi, bổ sung một số điều trong Dự thảo Bộ luật Hình sự. Cụ thể như sau:
      -  Điều  231. Tội gây ô nhiễm môi trường
     + Đề nghị quy định về số lần vượt quy chuẩn cho phép là: “từ... lần đến dưới... lần” để đảm bảo tính liên tục và không bị trùng dẫm trong quá trình áp dụng. Tại khoản 1 Điều 231 đề nghị thay cụm từ “vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép từ 02 đến 03 lần”, bằng cụm từ “vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép từ 02 đến dưới 03 lần” để tránh sự trùng lặp với các quy định tại khoản 2 “vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép từ 03 lần trở lên”.
     + Việc Dự thảo (điểm a khoản 1) chỉ quy định các hành vi xả nước thải, khí thải, bụi có chứa các thông số môi trường nguy hại hoặc có chứa chất phóng xạ vượt quy chuẩn mới xử lý về hình sự, còn đối với các hành vi xả nước thải, khí thải, bụi vượt quy chuẩn rất nhiều lần, với khối lượng lớn nhưng không chứa thành phần nguy hại thì không xử lý về hình sự mà chỉ là vi phạm hành chính là chưa nghiêm khắc, thiếu tính răn đe, giáo dục.
     +  Điểm c, khoản 1:  Cân nhắc việc hình sự hóa hành vi “chuyển giao, mua, bán, tiếp nhận, chôn, lấp, đổ thải chất rắn thông thường”. Nếu coi là tội phạm thì nên bổ sung từ “không đúng qui định” hoặc “trái phép” vào sau cụm từ trên.
     + Điểm c, khoản 2: Tương tự như trên.
     - Điều 232. Tội vi phạm quy định về xử lý chất thải nguy hại
     + Đề nghị đổi tên thành “Tội vi phạm qui định về quản lý chất thải nguy hại”.
    + Bổ sung hành vi phạm tội vào các điểm a, b khoản 1, điểm a khoản 2 thành: “chuyển giao, mua, bán, tiếpnhận, chôn lấp, đổ chất thải nguy hại trái phép” vì toàn bộ các hoạt động trên đều có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Ví dụ: Làm đổ, rơi các chất thải nguy hại ra đường, ra sông,  khu  dân  cư,…  trong  quá  trình vận chuyển;  dùng  chất thải  nguy  hại làm nguyên liệu tái chế, tận thu để sản xuất đồ dùng  sinh hoạt, thực phẩm, thức ăn chăn  nuôi…  mà gây tổn hại cho sức khỏe con người - Điều 234. Tội vi phạm quy định về an toàn vận hành công trình thủy lợi, hồ chứa, liên hồ chứa, đê điều và công trình phòng, chống thiên tai
      Tại khoản 1 đề nghị thay cụm từ “đã bị xử phạt hành chính” bằng cụm từ “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” để đúng với thuật ngữ được quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính.
      -   Điều 236. Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam
      Đề  nghị  diễn  đạt  lại  khoản  1  theo hướng: “Người nào có một trong các hành vi sau đây thì bị…” để tránh cách hiểu nhiều nghĩa.
      - Điều 237. Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người
      +  Khoản 1:  Sửa  thành:  “Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe, tính mạng của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác thì bị…”. Chuyển cụm từ “làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” vào các khoản cụ thể.
      + Bổ sung vào khoản 1: “Hành vi vi phạm qui định về y tế làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm từ người sang người.
      + Tại điểm a khoản 1 thay thuật ngữ  “khả năng truyền dịch bệnh cho người” thành “mang bệnh dịch nguy hiểm.
      - Điều 238. Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật
      + Tại  điểm b khoản  1  sửa  nội  dung: “thuộc đối tượng kiểm dịch mà không… về kiểm  dịch” thành  “mang bệnh dịch nguy hiểm.
      - Điều 239. Tội huỷ hoại nguồn lợi thủy sản
     + Tại khoản 1 đề nghị thay cụm từ “đã bị xử phạt hành chính” bằng cụm từ “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” để đúng với thuật ngữ được quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính.
     + Tại khoản 2 sửa nội dung “gây hậu quả nghiêm trọng” thành “làm chết các loài thủy sản thuộc danh mục được bảo vệ với số lượng lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác”.
       - Điều 240. Tội huỷ hoại rừng
      + Tại khoản 1 đề nghị thay cụm từ “đã bị xử phạt hành chính” bằng cụm từ “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” để đúng với thuật ngữ được quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính.
      + Chỉnh sửa điểm đ, khoản 2 cho rõ ràng hơn, tránh cách hiểu khác nhau: “đ) Gây hậu quả nêu tại điểm a, b khoản 1 điều này và còn thực hiện một trong các hành vi sau nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng: chống người thi hành công vụ; gây thương tích cho người thi hành công vụ; đập phá nơi làm việc, trang thiết bị, phương tiện hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cơ quan có trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội độc lập.”
      -  Điều  241. Tội vi phạm  các  quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ
     + Tại khoản 1 đề nghị thay cụm từ “đã bị xử phạt hành chính” bằng cụm từ “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” để đúng với thuật ngữ được quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính.
      + Điểm a, khoản 1 cần cụ thể hậu quả nghiêm trọng thành: “Làm chết hoặc mất khả năng sống trong môi trường tự nhiên số lượng cá thể lớn”.
      + Sửa điểm c, khoản 1 thành: “Vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm từ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quí, hiếm được ưu tiên bảo vệ với số lượng lớn…”, vì liệt kê như dự thảo sẽ thiếu (mật gấu, dịch mật gấu, dạ dày nhím, mai rùa,…) hoặc dễ thay đổi do nhu cầu thị trường tiêu dùng.
      + Đề nghị sửa điểm đ khoản 2 thành: “Buôn bán, vận chuyển qua biên giới trừ trường hợp cấu thành tội Buôn lậu được qui định tại Điều 153.
      + Gộp điểm e, điểm g khoản 2 thành: “Thực hiện hành vi qui định tại c điểm a, b, c khoản 1 Điều này với số lượng rất lớn.
      - Sửa khoản 3 thành: “Thực hiện hành vi phạm tội qui định tại điểm 1, điểm 2 Điều này với số lượng đặc biệt lớn thì bị,…. Đề nghị bỏ tình tiết “thu lợi bất chính lớn” vì đây không phải là tội phạm về kinh tế.
      - Điều 242. Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên
Đề nghị mô tả hành vi phạm tội để tránh trùng với Điều 240, Điều 241, đồng thời cụ thể hóa hậu quả trực tiếp như: giá trị thiệt hại về lâm sản, chết cá thể động vật thuộc danh mục,… (ở mức độ nghiêm trọng) hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác.
      - Điều 243. Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại
      Tại khoản 1 đề nghị thay cụm từ “đã bị xử phạt hành chính” bằng cụm từ “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” để đúng với thuật ngữ được quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính.
      - Điều 328. Tội sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn
      Dự thảo quy định Tội sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn như sau:“Người nào sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc một  trong các hành vi sau đây gây ngộ độc hoặc gây ảnh hưởng cho sức khỏe người khác hoặc đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ một 01 đến 03 năm…”.
Như vậy, dấu hiệu bắt buộc vẫn là phải gây hậu quả (gây ngộ độc hoặc gây ảnh hưởng cho  sức  khỏe  người  khác) hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Thực tế cho thấy hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn là rất nguy hiểm cho xã hội, có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của nhiều người ngay lập tức hoặc ảnh hưởng lâu dài mà trước mắt không định lượng được hậu quả. Do vậy, đề xuất quy định chỉ cần người nào sản xuất, kinh doanh thực phẩm mà biết rõ thực phẩm đó có thể gây ngộ độc hoặc gây ảnh hưởng xấu cho sức khỏe người khác (sử dụng chất cấm, hóa chất, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ trong sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản thực phẩm; sử dụng các loại chất cấm, thuốc thú y, chất kích thích tăng trưởng, thuốc bảo vệ thực vật, chất xử lý cải tạo môi trường trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản không đúng quy định…) là đủ yếu tố cấu thành tội phạm, việc gây hậu quả được quy định là tình tiết tăng nặng trong việc xác định trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, hình phạt trong tội danh này quy định mức cao nhất là 20 năm tù trong trường hợp “m chết từ 05 người trở lên hoặc gây ngộ độc trên 100 người” là quá nhẹ so với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi cố ý sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn gây chết nhiều người, gây ngộ độc cho nhiều ngưởi. Đề xuất mức hình phạt cao nhất cho tội danh trên là tù chung thân hoặc tử hình.
Tác giả bài viết: Đại tá Dương Văn Linh - Phó Cục trưởng Cục CSPCTPMTr, Bộ Công an
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 68 (tháng 11/2015)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Ý kiến bạn đọc