Rss Feed
Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh
Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật
Bông Hồng Xanh
tap chi

Thống kê

  • Đang truy cập: 63
  • Khách viếng thăm: 62
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 4836
  • Tháng hiện tại: 89613
  • Tổng lượt truy cập: 2433801

Quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong Bộ luật hình sự Việt Nam và đề xuất hoàn thiện

Đăng lúc: Chủ nhật - 11/12/2016 21:24 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
       Phụ nữ là nhóm đông đảo nhất trong các nhóm người có nguy cơ cao bị tổn thương về quyền con người (vulnerable groups). Bởi vậy, việc bảo vệ quyền phụ nữ được đặt ra như một nhiệm vụ trọng yếu đối với luật hình sự - ngành luật bảo vệ. Các Bộ luật hình sự (BLHS) của Việt Nam đã sớm ghi nhận nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ, tuy nhiên, trong các quy định ấy vẫn còn nhiều khiếm khuyết ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong thực tiễn.
       1.  Nội dung quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS năm 1999
       -    Quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ quyền phụ nữ
       Nghĩa vụ bảo vệ quyền phụ nữ được BLHS năm 1999 ghi nhận dưới danh nghĩa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân (bao gồm nữ công dân) tại Điều 1 về nhiệm vụ của BLHS. Việc thực thi nhiệm vụ bảo vệ quyền phụ nữ được BLHS năm 1999 xác định thông qua quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm (bao gồm tội phạm chống lại phụ nữ) của các cơ quan Công an, Kiểm sát, Toà án, Tư pháp, Thanh tra và các cơ quan hữu quan và mọi tổ chức, cá nhân khác trong xã hội (Điều 4).
       -    Quy định bảo vệ quyền con người đặc thù của phụ nữ
       Nhằm bảo vệ thiên chức làm mẹ của phụ nữ chống lại các hành vi phạm tội, BLHS năm 1999 quy định “phạm tội đối với phụ nữ có thai” là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) chung áp dụng đối với mọi tội phạm tại điểm h khoản 1 Điều 48. Ngoài ra, phạm tội đối với phụ nữ có thai (mà biết là có thai) còn được quy định là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt trong một số tội phạm có tính chất bạo lực hoặc đe doạ tính mạng, sức khoẻ như: Giết người (Điều 93); cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 104); hành hạ người khác (Điều 110); tổ chức sử dụng; cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 197, 200). Bên cạnh đó, BLHS năm 1999 còn tội phạm hoá hành vi gây tổn hại tính mạng, sức khoẻ và khả năng làm mẹ của người phụ nữ tại Điều 243 về tội phá thai trái phép.
       Để bảo vệ thiên chức làm mẹ của phụ nữ ở địa vị chủ thể của tội phạm: Đặc điểm tâm sinh lý khi mang thai, sinh nở được xem xét để áp dụng chính sách khoan hồng đối với người phụ nữ phạm tội thông qua quy định tình tiết “người phạm tội là phụ nữ có thai” là tình tiết giảm nhẹ TNHS áp dụng chung đối với mọi loại tội phạm tại điểm l khoản 1 Điều 46. Đặc điểm này cũng được xem xét để thay đổi tội danh cho người phụ nữ phạm tội từ đặc biệt nghiêm trọng (tội giết người) sang ít nghiêm trọng (tội giết con mới đẻ). BLHS năm 1999 còn cho phép trì hoãn, đình chỉ hoặc huỷ bỏ áp dụng một số chế tài để bảo hộ thiên chức làm mẹ của người phụ nữ phạm tội. Đó là các quy định về loại trừ hình phạt tử hình, hoãn chấp hành, tạm đình chỉ việc chấp hành hình phạt tù đối với phụ nữ đang mang thai, nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi tại các điều 35, 61 và 62 của Bộ luật.
       -    Quy định bảo vệ các quyền dễ bị xâm hại do chủ sở hữu là phụ nữ
       + Bảo vệ quyền bình đẳng giới của phụ nữ
       Quyền bình đẳng giới của phụ nữ trước pháp luật hình sự được bảo vệ bởi nguyên tắc “Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật” tại khoản 2 Điều 3 BLHS năm 1999. Nguyên tắc này là đòi hỏi triệt để xuyên suốt quá trình xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự. Không có bất kỳ điều khoản nào trong BLHS cho phép việc trừng trị nặng hơn hay nhẹ hơn đối với người phạm tội chỉ vì lí do giới tính của người đó. Không chỉ phủ nhận mọi sự phân biệt đối xử về giới, BLHS năm 1999 còn quy định hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ là tội phạm bởi Điều 130 về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ.
       + Bảo vệ quyền tự do và an toàn về tình dục của phụ nữ
       Để chống lại những hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền tự do và an toàn tình dục vốn chủ yếu nhằm vào phụ nữ và trẻ em gái, BLHS năm 1999 quy định là tội phạm và trừng phạt nghiêm khắc với hình phạt có thể đến tử hình những hành vi như: Hiếp dâm (Điều 111), hiếp dâm trẻ em (Điều 112), cưỡng dâm (Điều 113), cưỡng dâm trẻ em (Điều 114), giao cấu với trẻ em (Điều 115). Ngoài ra, BLHS đặc biệt nhấn mạnh việc trừng phạt hành vi xâm hại tình dục mà làm tổn hại nghiêm trọng sức khoẻ và nhân phẩm của người phụ nữ khi quy định tình tiết “làm nạn nhân có thai” là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt ở tất các các tội danh nêu trên. Những hành vi khác dẫn đến tổn hại quyền tự do và an toàn tình dục cũng bị BLHS trừng phạt nghiêm khắc với khung hình phạt có thể lên đến tù 20 năm hoặc tù chung thân như: Mua bán người vì mục đích mại dâm (điểm a khoản 2 Điều 119); mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em để đưa vào hoạt động mại dâm (điểm h khoản 2 Điều 120), chứa mại dâm (Điều 254), môi giới mại dâm (Điều 255).
       + Bảo vệ quyền tự do và an ninh cá nhân của phụ nữ
       Quyền tự do và an ninh cá nhân của phụ nữ được BLHS năm 1999 bảo vệ giống như của mọi cá nhân khác bởi các quy định cấm và trừng phạt những hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, quyền tự do của con người như: giết người, bức tử, cố ý gây thương tích, hành hạ, giam giữ người... Bên cạnh đó, có một số hành vi xâm hại quyền tự do và an ninh cá nhân chủ yếu nhằm vào phụ nữ hoặc các nhóm xã hội dễ bị tổn thương khác bị BLHS lên án như: Tội mua bán người ở Điều 119; tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình ở Điều 151.
       + Bảo vệ quyền tự do hôn nhân của phụ nữ
       Để đảm bảo quyền tự do hôn nhân của phụ nữ, BLHS năm 1999 quy định cấm và trừng phạt hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146); hành vi tổ chức cho người chưa đủ tuổi kết hôn hoặc kết hôn với người chưa đủ tuổi (tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn - Điều 148); hành vi cho phép đăng ký kết hôn đối với cuộc hôn nhân không đảm bảo tính tự nguyện hoặc điều kiện về tuổi kết hôn (tội đăng ký kết hôn trái pháp luật - Điều 149).
       2.  Một số hạn chế của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS năm 1999
       Như đã phân tích, BLHS năm 1999 thể hiện rõ ràng quan điểm chú trọng bảo vệ quyền phụ nữ. Tuy nhiên, ở một số góc độ liên quan đến bảo vệ quyền phụ nữ thì Bộ luật này vẫn còn thể hiện sự hạn chế như:
       -   Hạn chế về quan điểm và kỹ thuật lập pháp
       + Thứ nhất, quan điểm của BLHS về các quyền phụ nữ được bảo vệ chưa đảm bảo tính phổ quát của những quyền này. BLHS năm 1999 tuyên bố nhiệm vụ bảo vệ quyền phụ nữ qua nhiệm vụ bảo vệ quyền công dân chứ không phải quyền con người (Điều 1). Trong khi đó, các nhân quyền có giá trị phổ quát và là thuộc tính vốn có của mọi cá nhân mà pháp luật quốc tế đã yêu cầu: “Nghĩa vụ của các quốc gia hội viên theo Hiến chương Liên Hợp Quốc là phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do của con người”. Hơn nữa, quy định này còn mắc lỗi về kỹ thuật và mâu thuẫn với thực tiễn áp dụng pháp luật. Sở dĩ nói như vậy vì Chương XII của Bộ luật - “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người” bảo vệ các khách thể với tư cách là các quyền con người. Và trong thực tiễn, các quy định của BLHS vẫn được áp dụng để bảo vệ quyền của những người phụ nữ không phải là công dân Việt Nam.
       + Thứ hai, quy định về các tội tình dục chưa thực sự thể hiện quan điểm vị nữ quyền. Hành vi cấu thành các tội hiếp dâm, cưỡng dâm (Điều 111, 112, 113, 114) đều được quy định phải là hành vi giao cấu trong khi việc cưỡng bức thực hiện những hành vi tương tự giao cấu cũng gây tổn hại không khác gì giao cấu, thậm chí gây sỉ nhục nhân phẩm nghiêm trọng hơn. Theo đó, cách quy định của BLHS năm 1999 dường như chỉ chú trọng chống lại hành vi tổn thương về mặt thể xác hơn là bảo vệ sự toàn vẹn thể xác, tinh thần và sự tự chủ về tình dục của phụ nữ. Mà với đặc tính giàu cảm xúc của nữ giới thì tổn thương tinh thần, nhân phẩm nhiều khi nghiêm trọng hơn thể xác. Vì lẽ đó, việc ghi nhận duy nhất hành vi giao cấu là hành vi thuộc mặt khách quan của các tội cưỡng dâm, hiếp dâm thường bị các nhà phê bình nữ quyền trên thế giới chỉ trích là có cách nhìn về phụ nữ giống như một cỗ máy sinh học.
       + Thứ ba, quy định về tội giết con mới đẻ chưa rõ ràng và thiếu công bằng. Chưa rõ ràng ở chỗ Điều 94 của BLHS không xác định như thế nào là con mới đẻ, việc xác định tình tiết này phải căn cứ vào văn bản hướng dẫn xét xử từ 30 năm trước. Tức là cấu thành tội phạm được xác định bằng một văn bản dưới luật. Hơn nữa, hành vi giết con mới đẻ và vứt bỏ con mới đẻ có tính nguy hiểm khác hẳn nhau mà phải chịu chung một khung hình phạt là chưa công bằng.
       + Thứ tư, nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ còn mắc lỗi kỹ thuật khiến cho Bộ luật không nhất quán, khó áp dụng hoặc có kẽ hở cho tội phạm. Đơn cử một số trường hợp như sau: Một là: Tình trạng đang mang thai của người phụ nữ được BLHS mô tả bất nhất bằng các cụm từ khác nhau như “có thai” hoặc “đang có thai”. Hai là: Việc quy định tình tiết “phạm tội đối với phụ nữ có thai” làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt chưa tương xứng khi yêu cầu dấu hiệu dấu hiệu nhận thức chủ quan của người phạm tội đối với tình tiết này ở một số tội (như giết người, tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý) mà lại không yêu cầu dấu hiệu dấu hiệu nhận thức chủ quan này ở một số tội khác (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, tội hành hạ người khác). Bên cạnh đó, tình tiết định khung tăng nặng này còn chưa được quy định đối với rất nhiều tội phạm khác cũng thuộc loại có tính bạo lực, có khả năng gây nguy hiểm hoặc có tính chất dã man hơn hẳn khi thực hiện đối với phụ nữ mang thai như: Hiếp dâm, cưỡng dâm, bức tử, lây truyền HIV, bắt, giam, giữ người trái pháp luật, cướp tài sản, bức cung, dùng nhục hình... Ba là: mô tả tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ ở Điều 130 không làm rõ động cơ phạm tội là vì lí do giới tính nên không phản ánh đúng bản chất của tội phạm. Bốn là: Quy định về tội mua bán người không có mô tả cụ thể về hành vi khách quan cấu thành tội gây khó khăn cho việc xác định cấu thành tội phạm... Năm là: mô tả tội phá thai trái phép ở Điều 243 không cụ thể dẫn đến không phản ánh đầy đủ các dạng hành vi khách quan của tội phạm này.
       -    Hạn chế về tính tương thích với pháp luật quốc tế và các đạo luật khác của quốc gia
Về phương diện bảo vệ quyền phụ nữ, BLHS năm 1999 chưa tương thích với quy định pháp luật quốc tế và các đạo luật khác của Việt Nam ở những điểm sau:
       + Thứ nhất, BLHS năm 1999 bỏ lọt nhiều dạng hành vi mua bán người mà các văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia ngăn cấm. Do thiếu mô tả cấu thành tội phạm ở Điều 119 của Bộ luật nên chỉ có thể hiểu rằng tội mua bán người biểu hiện bằng hai loại hành vi: mua người hoặc bán người. Trong khi đó, Nghị định thư về ngăn ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em bổ sung cho Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 và Luật Phòng chống mua bán người năm 2011 của Việt Nam xác định bất kỳ hành vi nào tham gia vào bất kỳ khâu nào trong hoạt động mua, bán người đều bị coi là hành vi mua, bán người.
       + Thứ hai, BLHS chưa đáp ứng được yêu cầu về chế độ bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ trong lĩnh vực lao động, việc làm. Pháp luật quốc tế và Việt Nam đều có những yêu cầu rất cao về đảm bảo việc làm, tiền lương, chế độ thai sản cho người lao động nữ nhằm đảm bảo điều kiện sống, sức khoẻ phục vụ cho việc thực hiện thiên chức làm mẹ. BLHS năm 1999 đã có quy định có thể áp dụng trong trường hợp những bảo đảm trên bị vi phạm nhưng quy định đó chưa đáp ứng được yêu cầu về một chế độ bảo hộ đặc biệt. Hành động sa thải lao động nữ vì lý do thai sản có thể bị xử lý theo quy định tại Điều 128 về tội buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật, đồng thời áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS là phạm tội đối với phụ nữ có thai. Tuy nhiên, nếu việc sa thải không diễn ra trong thời gian mang thai mà diễn ra trong thời gian nuôi con nhỏ thì tình tiết tăng nặng TNHS sẽ không được áp dụng.
       + Thứ ba, BLHS mô tả hành vi cấu thành tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ chưa tương thích với hành vi tương ứng được mô tả ở các văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia. Xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ được Luật Bình đẳng giới của Việt Nam và Công ước CEDAW xác định bao gồm bất kỳ hành vi đối xử một cách tồi tệ, loại trừ hay hạn chế các quyền, do cơ bản của phụ nữ vì động cơ kỳ thị giới tính. Vậy nhưng hành vi phạm tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ được BLHS mô tả chỉ bao gồm hành vi loại trừ mà không gồm dạng hành vi hạn chế các quyền này hay dạng phân biệt đối xử.
       + Thứ tư, BLHS chưa tội phạm hoá hành vi quấy rối tình dục - một dạng hành vi xâm phạm tự do, an toàn tình dục phổ biến đã bị pháp luật quốc tế và quốc gia ngăn cấm. Hành vi quấy rối tình dục có biểu hiện tương tự hành vi dâm ô nhưng chỉ bị xử lý về hình sự nếu hành vi đó được thực hiện với nạn nhân là trẻ em theo quy định của Điều 116 BLHS về tội dâm ô đối với trẻ em. Trường hợp quấy rối tình dục người lớn thì không bị xử lý về hình sự..
       -   Hạn chế về tính phù hợp với thực tiễn tội phạm
       Liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ quyền phụ nữ, một số quy định của BLHS năm 1999 vẫn chưa phản ánh đầy đủ biểu hiện khách quan của hành vi phạm tội, bỏ lọt tội phạm hoặc chưa theo kịp diễn biến của chúng trong đời sống xã hội dẫn đến tình trạng có hành vi xâm hại nghiêm trọng nhân quyền của phụ nữ chỉ bị xử lý ở mức độ chưa đủ nghiêm khắc, thậm chí, không bị xử lý về hình sự.
       + Về tình trạng chưa phản ánh đầy đủ biểu hiện khách quan của hành vi phạm tội trong thực tiễn có thể thấy rõ nhất ở quy định về các tội phạm về tình dục.        Việc xác định duy nhất giao cấu mới là hành vi khách quan của các tội hiếp dâm, cưỡng dâm khiến cho quy định của BLHS năm 1999 một mặt chưa thể hiện được quan điểm vị nữ quyền, mặt khác còn là sự thiếu sót trong việc phản ánh thực tiễn tội phạm trước những khuynh hướng biến thái của hành vi tình dục trong xã hội hiện đại. Với quy định như vậy thì cưỡng bức quan hệ đồng giới hoặc thực hiện hành vi tương tự giao cấu sẽ không bị xử lý về các tội hiếp dâm hay cưỡng dâm. Nếu xử lý những hành vi này về tội làm nhục người khác (Điều 121) - một loại tội ít nghiêm trọng thì vừa không đủ nghiêm khắc vừa không phản ánh đúng bản chất của tội phạm là tội phạm về tình dục.
       Bên cạnh đó, quy định về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ ở Điều 130 cũng là một thiếu sót trong phản ánh biểu hiện khách quan của tội phạm. Như đã phân tích, mô tả của Điều 130 chỉ đề cập đến dạng hành vi cản trở quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội của phụ nữ. Đó không phải là dạng phổ biến của hành vi xâm phạm quyền bình đẳng giới. Trong thực tế, hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ trong các hoạt động trên phổ biến hơn nhiều so với việc trực tiếp tước đoạt quyền tham gia các hoạt động này. Ngoài ra, hành vi như tuyên truyền tư tưởng kỳ thị giới đối với phụ nữ cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng nhưng sẽ không phạm vào tội này.
       + Về hiện tượng bỏ lọt tội phạm, BLHS năm 1999 đang bỏ qua hành vi đặc biệt nghiêm trọng xâm hại tới quyền sống, cơ hội được sống của trẻ em gái là hành vi phá thai hoặc vứt bỏ trẻ sơ sinh vì lý do giới tính là gái. Chưa tính đến hệ luỵ của việc mất cân bằng giới tính đối với xã hội thì việc phá bỏ thai nhi chỉ vì mang giới tính nữ là việc làm tàn ác, vô nhân đạo và coi thường giá trị của phụ nữ. Mặc dù vậy nhưng BLHS năm 1999 chưa có quy định xử lý hoặc xử lý chưa thoả đáng đối với những hành vi này. Những người tiến hành phá thai, thai phụ và những người có liên quan không phải chịu bất cứ một loại trách nhiệm nào đối với hành vi phá thai vì lí do giới tính. Hành vi vứt bỏ, bỏ mặc trẻ sơ sinh tuỳ trường hợp có thể bị xử lý về hình sự hoặc không. Trong trường hợp đứa trẻ chết hoặc bị thương tích nghiêm trọng thì tuỳ tình tiết của vụ án, người phạm tội có thể bị truy cứu về tội giết con mới đẻ, tội giết người, tội vô ý làm chết người, tội cố ý hoặc vô ý gây thương tích, tổn hại cho sức khoẻ của người khác. Trong trường hợp đứa trẻ bị vứt bỏ không bị thương tích, tổn hại sức khoẻ hay tử vong thì người vứt bỏ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Thực chất, hậu quả bị thương hay chết của đứa trẻ không xảy ra chỉ là may mắn ngẫu nhiên nên việc hành vi này không bị xử lý về hình sự là không thoả đáng với tính chất tàn nhẫn của nó.
       + Về khả năng đón đầu những diễn biến có thể dự liệu rõ ràng của tội phạm xâm hại quyền phụ nữ, BLHS năm 1999 cũng có điểm bất cập, lạc hậu khi chưa tội phạm hoá hành vi cưỡng bức mang thai hộ, tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã cho phép việc mang thai hộ với điều kiện việc mang thai hộ tiến hành trên cơ sở sự tự nguyện của các bên và việc mang thai hộ chỉ được tiến hành vì mục đích nhân đạo, đồng thời cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại nhưng bản thân đạo luật không có chế tài nên quy định rất dễ bị vi phạm. Việc áp dụng chế tài hành chính để xử phạt cũng sẽ không đủ sức răn đe bởi lợi nhuận vật chất từ việc mang thai hộ vì mục đích thương mại thường rất lớn. Do đó, những hành vi tổ chức mang thai hộ, cưỡng bức mang thai hộ vì mục đích thương mại cần phải được tội phạm hoá mới đủ sức răn đe, ngăn ngừa.
       3.  Một số đề xuất hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS Việt Nam
       Để BLHS Việt Nam trở thành công cụ bảo vệ mạnh mẽ và hữu hiệu cho các quyền phụ nữ thì những hạn chế đã chỉ ra ở trên đây cần phải sớm được khắc phục. Nhận thức được điều đó, các nhà lập pháp Việt Nam đã có những sửa đổi quan trọng khi xây dựng BLHS năm 2015 như: Ghi nhận các quyền phụ nữ được bảo vệ với tính phổ quát của nó; quy định về các tội phạm về tình dục đã thể hiện quan điểm vị nữ quyền sâu sắc hơn và phù hợp với thực tiễn tội phạm hơn; sử dụng thuật ngữ thống nhất để mô tả tình trạng đang mang thai của người phụ nữ; tăng cường việc áp dụng và áp dụng hợp lý hơn tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội với phụ nữ mà biết có thai”; làm rõ cấu thành và quy định hợp lý các tội: Tội giết con mới đẻ, tội mua bán người, tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật; tội phạm hoá hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại... Tuy nhiên, bên cạnh những bước tiến rõ rệt trong việc bảo vệ quyền phụ nữ, BLHS năm 2015 vẫn còn duy trì một số khiếm khuyết đã thấy ở BLHS năm 1999 như: Chưa áp dụng tình tiết tình tiết tăng nặng định khung “phạm tội với phụ nữ mà biết có thai” đối với tội hiếp dâm, cưỡng dâm; vẫn quy định một cách thiếu chặt chẽ về tội phá thai trái phép; chưa tội phạm hoá hành vi quấy rối tình dục, hành vi phá thai và vứt bỏ trẻ nhỏ vì lí do giới tính, hành vi cưỡng bức mang thai hộ.
       Nhằm khắc phục những tồn tại, khiếm khuyết liên quan đến bảo vệ quyền phụ nữ như phân tích ở trên, BLHS vừa mới thông qua này cần được tiếp tục hoàn thiện theo những định hướng dưới đây:
       Thứ nhất: Bổ sung tình tiết “phạm tội với phụ nữ mà biết là có thai” làm tình tiết tăng nặng định khung đối với tội hiếp dâm, cưỡng dâm. Trường hợp này có tính chất nghiêm trọng tương đương với trường hợp hiếp dâm, cưỡng dâm làm nạn nhân có thai, nên được xếp vào cùng một khung hình phạt.
       Thứ hai: Sửa đổi quy định về tội phá thai trái phép thành tội vi phạm các quy định về phá thai an toàn và làm rõ cấu thành tương ứng với tội danh. Đây là tội xâm phạm quy định quản lý nhà nước về hoạt động phá thai, bao gồm tất cả các trường hợp: việc phá thai thực hiện bởi người không có thẩm quyền, phá thai ở nơi không có thẩm quyền, phá thai không đáp ứng yêu cầu chuyên môn gây tổn hại tính mạng, sức khoẻ của người được phá thai.
       Thứ ba: Tội phạm hoá hành vi quấy rối tình dục hoặc sửa đổi tội dâm ô với người dưới 16 tuổi để có thể áp dụng cả trong trường hợp hành vi quấy rối tình dục diễn ra đối với nạn nhân là người lớn.
       Thứ tư: Tội phạm hoá hành vi cưỡng bức mang thai hộ vì mục đích thương mại hoặc xem xét đây như một trường hợp định khung tăng nặng hình phạt của tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại.
        Thứ năm: Tội phạm hoá các hành vi phá thai và vứt bỏ trẻ nhỏ vì lí do giới tính. Tuy nhiên, trong thực tế việc xác định động cơ vì lí do giới tính không dễ dàng nên phải xây dựng quy định theo hướng ngăn chặn khả năng những hành vi này được thực hiện vì lí do giới tính
       Đảm bảo quyền con người - trong đó có quyền phụ nữ - là định hướng trọng tâm trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Đảng ta hiện nay9. Do vậy, việc hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS Việt Nam theo các định hướng đề xuất trên đây là cần thiết và cấp bách nhằm thể chế hoá chủ trương của Đảng và thực hiện nhiệm vụ của luật hình sự.
Tác giả bài viết: Trần Thị Hồng Lê - Học viện Kỹ thuật Quân sự, Bộ Quốc phòng
Nguồn tin: Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 80 (tháng 9/2016)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)

Số: Chỉ thị số 14-CT/TW
Tên: (Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng)

Ngày BH: (18/07/2017)

Số: 1884/QyĐ-T48
Tên: (Quy định về văn hóa ứng xử của cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Trường Đại học CSND)

Ngày BH: (12/10/2017)

Số: 27/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân)

Ngày BH: (21/08/2017)

Số: 124/2015/NĐ-CP
Tên: (NGHỊ ĐỊNH SỐ 185/2013/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2013)

Ngày BH: (14/11/2013)

Số: Chứng chỉ Tin học ICDL
Tên: (ICDL là chứng chỉ kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin)

Ngày BH: (12/11/2015)

Số: 2785/BYT-KCB
Tên: (Tăng cường thực thi Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá và hưởng ứng Ngày thế giới không thuốc lá; Tuần lễ Quốc gia không thuốc lá năm 2016)

Ngày BH: (15/05/2016)

Số: VBQPPL
Tên: (Hệ thống văn bản về thuế 2)

Ngày BH: (09/05/2017)