Rss Feed

Menu

Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh
Bông Hồng Xanh
40 năm
tap chi

Thống kê

  • Đang truy cập: 39
  • Hôm nay: 2326
  • Tháng hiện tại: 87261
  • Tổng lượt truy cập: 1734766

Những trở ngại tâm lý trong giao tiếp với cán bộ, giảng viên của sinh viên hệ chính quy Trường Đại học Cảnh sát nhân dân - Một số giải pháp khắc phục

Đăng lúc: Thứ sáu - 26/08/2016 09:13 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
       Giao tiếp là một hoạt động tương tác tâm lý và trao đổi thông tin giữa hai hay nhiều người với nhau nhằm đạt được những mục đích nhất định. Trong quá trình tồn tại và phát triển, việc giao tiếp là yếu tố bắt buộc mà các cá nhân phải thực hiện, nó vừa là nhu cầu, vừa là nghĩa vụ của mỗi con người trong xã hội.
       Trong môi trường giáo dục, do tính chất đặc thù chủ yếu là hoạt động dạy và học nên việc giao tiếp diễn ra một cách thường xuyên giữa học sinh, sinh viên với các giáo viên, các cán bộ làm công tác quản lý, giáo dục nhằm mục đích chung là truyền đạt tri thức cũng như kinh nghiệm sống cho các em. Đối với sinh viên các trường Đại học trên cả nước nói chung và sinh viên Trường Đại học CSND nói riêng thì vấn đề giao tiếp và rèn luyện kỹ năng giao tiếp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó không những giúp sinh viên lĩnh hội tốt các tri thức cần thiết mà còn điều hòa tốt các mối quan hệ với mọi người xung quanh. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay có rất nhiều sinh viên đang học tập và rèn luyện tại Trường Đại học CSND gặp phải một số trở ngại tâm lý nhất định trong giao tiếp với cán bộ, giảng viên trong trường, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng trao đổi thông tin cũng như tiếp thu tri thức phục vụ quá trình học tập và rèn luyện.
       Qua khảo sát thực tế khối sinh viên chính quy đang học tập tập trung tại Trường Đại học CSND năm học 2015 - 2016 cho thấy, quá trình giao tiếp của sinh viên với cán bộ, giảng viên Nhà trường có sự phân hóa về mức độ trở ngại tâm lý theo từng khóa học, chúng ta có thể thấy được cụ thể qua bảng số liệu sau đây: (
Mỗi khóa học khảo sát số lượng 60 sinh viên).


Khóa học Khóa
D22S
Khóa
D23S
Khóa
D24S
Mức độ Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)
Thường
xuyên
11.67 13.34 26.67
Thỉnh
thoảng
25 33.33 33.33
Không bao giờ 63.33 53.33 40
       Qua phân tích bảng số liệu ta thấy mức độ trở ngại trong giao tiếp của sinh viên có sự thay đổi nhiều theo từng năm học. Theo đó, sinh viên năm hai (khóa D24S) có mức độ trở ngại tâm lý cao nhất (26.67%) và mức độ này được giảm dần qua các năm học tiếp theo, đến năm học thứ 4 (khóa D22S) thì mức độ này giảm hơn một nửa (11.67%).
       Mức độ khó khăn trong giao tiếp này còn có sự khác biệt giữa các chuyên ngành học với nhau. Cụ thể như sau: (
Mỗi chuyên ngành khảo sát số lượng 60 sinh viên).

 
Khối chuyên ngành Khối điều
tra
Khối
QLHC
Khối
Trại
giam
Biểu hiện Tỷ lệ
(%)
Tỷ lệ
(%)
Tỷ lệ
(%)
Tự tin vào bản thân, giao tiếp thoải mái 35 33.33 38.33
Bình thường khi giao tiếp 38.33 41.67 41.67
Tâm trạng hồi hộp, lo lắng khi giao tiếp 16.67 11.67 15
Lo sợ, tìm cách né tránh khi giao tiếp 10 3.33 5
       Số liệu thống kê trên cho thấy được ở các khối chuyên ngành khác nhau thì có mức độ trở ngại tâm lý trong giao tiếp là khác nhau. Các chuyên ngành thuộc khối Trại giam có mức độ tự tin cao nhất khi giao tiếp với cán bộ, giảng viên nhà trường (38.33%), chuyên ngành có mức độ trở ngại tâm lý trong giao tiếp cao nhất là khối chuyên ngành Cảnh sát điều tra.
      Qua khảo sát số lượng 180 sinh viên ở 03 khóa học và 03 khối chuyên ngành khác nhau thì chúng tôi nhận thấy sự trở ngại tâm lý trong giao tiếp với cán bộ, giảng viên nhà trường của sinh viên xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:
       Thứ nhất, sự không tương đương về vị thế giữa hai bên giao tiếp (chiếm tỷ lệ 123/180).
       Cán bộ, giảng viên Nhà trường nhìn dưới góc độ giáo dục là những thầy cô trực tiếp quản lý, truyền đạt tri thức cho sinh viên. Tuy nhiên, Trường Đại học CSND còn là môi trường đào tạo, rèn luyện sinh viên thành những chiến sĩ Cảnh sát nhân dân tương lai - là lực lượng vũ trang bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên và hạnh phúc của người dân. Do đó, cán bộ, giảng viên Nhà trường còn là cấp trên chỉ huy trực tiếp của sinh viên trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị khi còn đang học tập tại trường. Chính vì vậy, khi tiếp xúc, giao tiếp hay trình bày ý kiến với cán bộ, giảng viên thì sinh viên thường có tâm lý sợ sệt, lo lắng, không dám trình bày ý kiến của mình, vấn đề này chính là nguyên nhân tạo ra rào cản tâm lý khi tiếp xúc với các cán bộ, giảng viên của sinh viên.
       Thứ hai, kỹ năng giao tiếp của sinh viên còn hạn chế (chiếm tỷ lệ 86/180).
       Đây được xem là nguyên nhân cơ bản, trường hợp này xảy ra nhiều nhất đối với sinh viên mới nhập học vào trường. Sinh viên không chỉ thiếu các kiến thức cơ bản về giao tiếp mà còn chưa được trang bị, rèn luyện các kỹ năng giao tiếp. Do đó, khi tiếp xúc với cán bộ, giảng viên Nhà trường thì sinh viên thường ngập ngừng, lúng túng không dám trình bày ý kiến hoặc không biết trình bày như thế nào. Một số sinh viên còn tránh né, bỏ qua các vấn đề mà mình cần trao đổi cũng vì lý do này.
       Thứ ba, có sự khác nhau về văn hóa giao tiếp giữa các vùng miền (chiếm tỷ lệ 56/180).
      Đa số cán bộ, giảng viên và sinh viên nhà trường đều xuất thân từ các vùng miền khác nhau trên cả nước nên tất yếu có sự khác nhau về phong tục tập quán, văn hóa giao tiếp, ứng xử. Vấn đề này cũng tạo ra nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình giao tiếp giữa sinh viên với cán bộ, giảng viên. Đồng thời, nếu giao tiếp không thành công trong lần tiếp xúc đầu tiên sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến các lần giao tiếp sau đó, thậm chí một số em còn có tâm lý e ngại, tránh né khi tiếp tục giao tiếp lại với cán bộ, giảng viên đó.
       Thứ tư, sinh viên chưa đủ tự tin vào bản thân (chiếm tỷ lệ 55/180).
       Biểu hiện của nguyên nhân này là các em thường e ngại tiếp xúc, trao đổi với các cán bộ, giảng viên có thể vì cho rằng bản thân có nhiều khiếm khuyết, lo sợ mắc lỗi khi giao tiếp, cách nói chuyện không được cán bộ, giảng viên hài lòng. Chính vì vậy mà các em cũng gặp nhiều khó khăn về mặt tâm lý khi giao tiếp
       Thứ năm, sự thiếu thân thiện trong giao tiếp của một số cán bộ, giảng viên (chiếm tỷ lệ 49/180).
       Nguyên nhân này hình thành có thể do đặc điểm tâm lý của một số cán bộ, giảng viên có tính cách nghiêm nghị, thẳng tính... hay cũng có thể do một số người không thích giao tiếp với sinh viên nên luôn tạo ra khoảng cách với các em. Tình trạng này làm cho sinh viên thực sự cảm thấy trở ngại khi giao tiếp, ngoài vấn đề liên quan đến công việc thì hầu như sinh viên luôn tránh tiếp xúc với những cán bộ, giảng viên này.
      Từ những nguyên nhân trên, chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục những trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên với cán bộ, giảng viên trường Đaị học CSND như sau:
       Một là, trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về kỹ năng giao tiếp và giao tiếp sư phạm.
       Từ năm học đầu tiên, Nhà trường cần trang bị cho sinh viên các kiến thức về giao tiếp, bản chất giao tiếp cũng như các yếu tố tham gia quá trình giao tiếp... Ngoài ra, cán bộ, giảng viên cũng cần cung cấp thêm cho sinh viên các kiến thức, hiểu biết về cuộc sống và các kỹ năng sống cần thiết. Đây là những vấn đề cốt lõi trong giao tiếp. Trên cơ sở nắm bắt những kiến thức này, sinh viên sẽ rèn luyện để hình thành các kỹ năng giao tiếp. Để thực hiện tốt giải pháp này cần có sự quan tâm chỉ đạo của Ban Giám hiệu cũng như sự phối hợp từ phía các đơn vị chức năng như Bộ môn Tâm lý, Đoàn trường, phòng QLHV, phòng Quản lý đào tạo và các phòng ban khác có liên quan nhằm thống nhất kế hoạch, nội dung kiến thức về kỹ năng giao tiếp để trang bị cho sinh viên khi mới nhập trường, cũng có thể đưa vào chương trình hoạt động đầu khóa của mỗi khóa học. Riêng Ban chấp hành Đoàn trường và Bộ môn Tâm lý cần có sự phối hợp để thành lập một số Câu lạc bộ liên quan đến những kỹ năng mềm mà tất cả sinh viên hiện nay nói chung và sinh viên Trường Đại học CSND nói riêng đều rất muốn tham gia như Câu lạc bộ kỹ năng sống, Câu lạc bộ tâm lý - hoạt động,. Từ đó tạo ra môi trường lành mạnh, bổ ích cho sinh viên tham gia, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động trong giao tiếp đối với mọi người nói chung và đối với cán bộ, giảng viên Nhà trường nói riêng.
       Hai là, cán bộ, giảng viên Nhà trường phải vừa giữ được tính chuẩn mực của người giảng viên, vừa tạo ra được bầu không khí thân thiện trong giao tiếp với sinh viên.
       Các cán bộ, giảng viên Nhà trường vừa đóng vai trò là người thầy truyền đạt tri thức cho các em, đồng thời cũng vừa là người anh, người chị đi trước hướng dẫn các em trong quá trình học tập và rèn luyện. Chính vì vậy, trong quá trình giao tiếp với sinh viên, cán bộ giảng viên không những phải xây dựng cho mình tác phong chuẩn mực, nghiêm túc mà còn phải luôn vui vẻ, thân thiện, biết lắng nghe, tạo được sự gần gũi, đồng thời phải tránh thái độ khó chịu khi tiếp xúc với các em. Thực hiện tốt các vấn đề này sẽ góp phần giúp các em cảm thấy thoải mái, không bị áp lực, từ đó các em sẽ tự tin hơn trong quá trình tiếp xúc với thầy cô.
       Ba là, không ngừng tích lũy, làm giàu và nâng cao năng lực sử dụng vốn ngôn ngữ cho sinh viên.
       Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp đặc trưng, cơ bản nhất của con người, nó xác lập và vận hành các mối quan hệ người - người trong xã hội. Muốn giao tiếp tốt, nhất thiết phải có vốn ngôn ngữ tốt. Vì vậy, rèn luyện ngôn ngữ trong giao tiếp được xem như là một bài học bắt buộc. Ngôn ngữ ở đây được hiểu bao gồm cả ngữ âm, từ vựng, cú pháp và các biện pháp tu từ. Do đó, để thực hiện tốt biện pháp này đòi hỏi các sinh viên cần hết sức tích cực trong rèn luyện ngôn ngữ bằng cách nghiên cứu, tìm tòi và thực hành trong các mối quan hệ với những người xung quanh.
       Bốn là, tích cực rèn luyện khả năng sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ, góp phần làm tăng hiệu quả của quá trình giao tiếp.
       Trong quá trình giao tiếp thì các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ luôn đóng vai trò quan trọng, góp phần làm tường minh các thông điệp giữa các chủ thể với nhau. Thực chất của vấn đề rèn luyện khả năng sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ là rèn luyện cách giao tiếp bằng mắt, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, tư thế,. Để thực hiện tốt biện pháp này, ngoài các kiến thức mà sinh viên được lĩnh hội từ các thầy cô giảng dạy thì bản thân các em cũng cần tích cực nghiên cứu, tìm hiểu thông qua phim ảnh, tài liệu về các kiến thức phi ngôn ngữ và ngôn ngữ cơ thể, góp phần giúp sinh viên tự tin hơn, thoải mái hơn trong quá trình giao tiếp với cán bộ, giảng viên nhà trường.
       Năm là, tích cực rèn luyện các kỹ năng giao tiếp cho sinh viên.
       Sau khi sinh viên đã có được những kiến thức lý thuyết cơ bản về kỹ năng giao tiếp thì vấn đề quan trọng là các em ứng dụng, sử dụng các kiến thức đó trong những tình huống thực tế cụ thể như thế nào, mức độ linh hoạt cũng như khả năng xử lý các vấn đề nảy sinh ra sao là một tiêu chí hết sức quan trọng. Chính vì vậy, Nhà trường cần tạo được sự phối kết giữa các đơn vị trong Nhà trường cũng như giữa Nhà trường với các đơn vị, cá nhân bên ngoài nhằm tổ chức các hoạt động giao tiếp thực tế, xây dựng các tình huống cụ thể vào các ngày nghỉ, các buổi cuối tuần tạo điều kiện cho sinh viên trực tiếp tham gia, vận dụng các kiến thức lý thuyết đã được trang bị vào thực tiễn. Đây cũng là một giải pháp có khả năng mang lại hiệu quả cao góp phần hạn chế mức độ trở ngại tâm lý trong quá trình giao tiếp của sinh viên.
       Tóm lại, trong quá trình giao tiếp trực tiếp hay gián tiếp với cán bộ giảng viên nhà trường thì tất yếu sinh viên sẽ gặp phải sự trở ngại tâm lý nhất định bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Do đó, để hạn chế những nguyên nhân này thì ngoài việc thực hiện tốt các giải pháp nêu trên, cán bộ, giảng viên và sinh viên cần phải xem mái Trường Đại học CSND thực sự là ngôi nhà thứ hai của mình để gần gũi nhau hơn, từ đó xóa bỏ được những rào cản tâm lý trong quá trình giao tiếp, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nhằm đào tạo ra những người chiến sĩ CSND không chỉ giỏi về pháp luật, tinh thông về nghiệp vụ mà còn là một người cán bộ thân thiện, vui vẻ và gần gũi với quần chúng nhân.
Tác giả bài viết: Trần Vĩnh Thịnh - Trường Đại học Cảnh sát nhân dân
Nguồn tin: Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 77 (tháng 6/2016)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc