Rss Feed
Chào mừng Khai giảng năm học 2020-2021 Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Những thay đổi về chính sách quốc phòng của các nước và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á trong thời gian gần đây

Đăng lúc: Thứ ba - 31/03/2015 00:33 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
Những năm gần đây, thế giới đã chứng kiến sự tăng mạnh về ngân sách quốc phòng của các nước châu Á[1] nói chung và Đông Bắc Á nói riêng. Mỗi nước đều có lý do riêng cho sự hiện đại hóa quân sự của mình, song hệ quả của việc làm này là tạo ra sự nghi ngờ và đề phòng lẫn nhau và đẩy các quốc gia vào một cuộc cạnh tranh về sức mạnh quân sự trong khu vực.
1. Nhật Bản
Những thay đổi về chính sách quốc phòng của Nhật Bản cho thấy Chính phủ nước này đã chủ trương tăng cường sức mạnh quốc gia.
Năm 2010, Nhật Bản đã thay đổi chiến lược quân sự trên cơ sở xem xét mối đe dọa an ninh đối với nước mình mà trọng tâm là việc chuyển ưu tiên trong quân sự từ đối phó với Nga ở phía Bắc sang đối phó với Trung Quốc ở phía Nam. Học thuyết quân sự mới của Nhật Bản cho rằng, mối đe dọa chính đối với nước này là Trung Quốc và Cộng hòa Dân chủ nhân dân (CHDCND) Triều Tiên. Tô-ky-ô lo ngại về sự gia tăng sức mạnh của quân đội Trung Quốc trong đó có sự gia tăng về sức mạnh của lực lượng hải quân.
Nhật Bản đã, đang và sẽ tăng cường sức mạnh quân sự bằng việc mua sắm các trang thiết bị cho lực lượng phòng vệ, đặc biệt là trang bị cho lực lượng phòng vệ trên biển của nước này (tương đương hải quân của các nước khác) thông qua việc mua tàu ngầm (dự định tăng từ 16 lên 22 chiếc), triển khai các dự án đóng tàu chở trực thăng chiến đấu cỡ lớn bên cạnh ba tàu sân bay trở trực thăng mà 2 trong số đó đã đưa vào hoạt động năm 2009 và 2011 (Ô-su-mi và Hu-y-ga) và một tàu Izumo hạ thuỷ năm 2013 dự định sẽ đưa vào hoạt động năm 2015. Đây là tàu trở trực thăng lớn nhất của Nhật Bản kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Việc hạ thủy tàu Izumo của Nhật Bản được cho là câu trả lời cho việc Trung Quốc đưa tàu sân bay đầu tiên của nước này- tàu Liêu Ninh - vào chạy thử. Đây cũng được cho là sự chạy đua tăng cường sức mạnh hải quân giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Việc Nhật Bản hạ thủy tàu Izumo đã gây sự chú ý từ phía Trung Quốc. Tờ Thời báo hoàn cầu của Trung Quốc có bài viết cho rằng Nhật Bản hạ thuỷ tàu Izumo đúng ngày Mỹ ném bom xuống Nhật Bản là “có ý đồ sâu xa” và nhận định rằng sự kiện này có thể gây ra một cuộc chạy đua vũ trang ở Đông Á.
Để đáp lại những diễn biến trong khu vực, đặc biệt là các hành động của Trung Quốc đe dọa đến an ninh Nhật Bản, cuối năm 2013 Nhật Bản đã thông qua Chiến lược an ninh quốc gia mới. Theo đó, Tô-ky-ô chủ trương tăng cường sức mạnh quốc phòng để đối phó với lập trường ngày một quyết đoán của Bắc Kinh nhằm bảo vệ lãnh thổ quốc gia. Thành lập đơn vị đổ bộ có khả năng giành lại các đảo xa như quần đảo Senkaku/điếu Ngư. Trong chính sách an ninh mới này chính quyền Tô-ky-ô cũng dự định tìm kiếm vai trò an ninh chủ động hơn của Lực lượng phòng vệ Nhật Bản ở nước ngoài và vạch ra phương hướng chỉ đạo về hoạt động xuất khẩu vũ khí. Để thực hiện các kế hoạch đặt ra, Nhật Bản đã tăng ngân sách quốc phòng trong 5 năm từ 2014 - 2019 lên 5% tương đương 240 tỷ USD để mua sắm các trang thiết bị vũ khí hiện đại nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng. Theo đó Nhật Bản mua 2 tàu khu trục được trang bị hệ thống chống tên lửa Aegis, 3 máy bay không người lái cho hoạt động giám sát, 5 tàu ngầm, 52 xe lội nước và 17 máy bay vận tải Osprey của Mỹ cho các lược lượng phòng vệ mặt đất và trên biển, trang bị 28 máy bay chiến đấu F35.
Không dừng lại ở những chủ trương, hành động nêu trên, Nhật Bản đã tiến hành giải thích lại Hiến pháp để thực hiện quyền phòng vệ tập thể với Mỹ, trong đó có nới lỏng quy định cấm xuất khẩu vũ khí để mở đường cho các công ty trong nước tham gia các dự án xuất khẩu vũ khi với nước ngoài. Việc này được coi như là một bước ngoặt mang tính lịch sử trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản[2]. Tất cả những động thái đó đi ngược lại những gì mà Nhật Bản đã từng thực hiện trong quá khứ. Điều đó cho thấy, Nhật Bản đang dần dần thay đổi để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới, để đáp lại những thay đổi của môi trường an ninh xung quanh và gia tăng sự cạnh tranh sức mạnh với các nước Đông Bắc Á đặc biệt là Trung Quốc.
2. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Triều Tiên) luôn ưu tiên hàng đầu cho sức mạnh quân sự dựa trên chính sách “tiên quân”. Con bài quân sự luôn được Triều Tiên sử dụng để mặc cả với thế giới bên ngoài. Do vậy, Triều Tiên không ngừng nâng cao khả năng quân sự của mình thông qua các vụ thử hạt nhân và tên lửa. Điều đó đồng nghĩa với việc an ninh khu vực Đông Bắc Á luôn trong tình trạng bất ổn do Triều Tiên luôn khuấy động một cuộc tăng cường vũ khí quân sự trong khu vực.
Bên cạnh đó, sự trở lại châu Á của Mỹ cùng với các cuộc tập trận chung giữa Mỹ và Hàn Quốc cũng là một nguyên nhân thúc đẩy Triều Tiên tăng cường sức mạnh quân sự. Mỹ xoay trục về châu Á và tăng cường sự hiện diện quân sự ở khu vực này trở thành mối đe dọa thường trực đến an ninh của Triều Tiên và để đảm bảo an ninh cho mình, Triều Tiên không ngừng nâng cao khả năng quân sự thông qua các vụ thử hạt nhân và tên lửa bất chấp sự lên án của cộng đồng quốc tế và lệnh cấm vận của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Thậm chí phía Triều Tiên còn mạnh mẽ tuyên bố rằng họ sẽ thử hạt nhân kiểu mới để đáp lại những chỉ trích từ phía Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhằm vào nước này khi họ bắn hai tên lửa vào vùng biển ngoài khơi bờ biển phía đông Bán đảo Triều Tiên ngày 26/3/1014 trong bối cảnh cuộc tập trận chung giữa Mỹ và Hàn Quốc chuẩn bị diễn ra. Triều Tiên đã từng thực hiện 3 vụ thử hạt nhân trong quá khứ vào các năm 2006, 2009 và 2013 và hiện nay theo dự báo của các nhà phân tích thì nước này có khả năng sẽ thử hạt nhân lần thứ 4. Chính việc gia tăng sức mạnh quân sự của Triều Tiên là một trong những nguyên nhân làm cho các nước khác trong khu vực phải tăng cường phòng thủ bằng cách nâng cấp các trang thiết bị quân sự qua đó làm gia tăng chạy đua sức mạnh quân sự giữa các quốc gia trong khu vực Đông Bắc Á.
3. Hàn Quốc
Trước những biến động trong khu vực, đặc biệt là việc Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân và tên lửa tầm xa, Hàn Quốc đã tăng cường sức mạnh quân sự. Trước đây, để đối phó với việc gây hấn của Triều Tiên, Tổng thống Li-Miêng-Pắc đã kêu gọi tăng cường quân sự và hợp tác với Mỹ để chống lại bất kỳ cuộc xâm lược nào từ phía Triều Tiên. Sau vụ chìm tàu Cheonan và đấu pháo giữa Triều Tiên và Hàn Quốc, phía Hàn Quốc đã chủ trương tăng cường sức mạnh quân sự và quyết định tăng ngân sách quốc phòng. Gần đây Seoul đã đạt được thỏa thuận với Oa-sinh-tơn về việc tăng tầm bắn lên 800 km và loại bỏ hạn chế lượng chất nổ ở đầu đạn của tên lửa để đối phó với những đe dọa từ phía Bình Nhưỡng và sự gia tăng sức mạnh quân sự của các nước trong khu vực[3].
Để đối phó với sự tăng cường quân sự của các nước xung quanh mình đặc biệt là các nước có tranh chấp về biển đảo, Hàn Quốc cũng tích cực nâng cao khả năng chiến đấu của quân đội trong đó có tăng cường sức mạnh cho hải quân. Ủy ban ngân sách và tài chính của quốc hội nước này đã thông qua khoản chi cần thiết cho các chương trình tăng cường sức mạnh của lực lượng hải quân nhằm đối phó với kế hoạch tăng cường hải quân của Nhật Bản và Trung Quốc. Hàn Quốc đang phát triển tên lửa hành trình siêu thanh có thể tấn công tàu sân bay, tàu khu trục. Bên cạnh đó nước này cũng tăng cường thêm về mặt số lượng các tàu khu trục và tàu ngầm với kỹ thuật hiện đại để tăng cường lực lượng hải quân nhằm đối phó với hành động khiêu khích trên biển của Triều Tiên và những tranh chấp biển đảo với các quốc gia láng giềng là Nhật Bản (Dokdo/Takeshima) và Trung Quốc (leodo/Tô Nham).
Bộ Quốc phòng Hàn Quốc cho rằng, sở dĩ nước này đầu tư để tăng cường sức mạnh hải quân là vì lực lượng hải quân còn rất yếu chưa tương xứng với Trung Quốc và Nhật Bản cả về số lượng và chất lượng. Phía Hàn Quốc còn dự định đóng thêm tàu khu trục được trang bị hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis từ năm 2023 đến 2027 nhằm nâng cao sức mạnh hải quân để đối phó với tên lửa cũng như tàu ngầm của đối phương và ứng phó với nguy cơ tiềm ẩn xung quanh bán đảo Triều Tiên. Trước thực tế Nhật Bản hạ thủy tàu Izumo được cho là vượt trội so với nhiều tàu sân bay thứ thiệt và kế hoạch đóng thêm tàu sân bay của Trung Quốc, phía Hàn Quốc cũng dự định đóng 2 tàu sân bay hạng nhẹ 30.000 tấn có thể mang 30 máy bay chiến đấu.
Không những đầu tư nâng cao sức mạnh của lực lượng hải quân, Hàn Quốc còn dự định đầu tư mua sắm để tăng cường sức chiến đấu của lực lượng không quân bằng việc lên kế hoạch mua 40 máy bay chiến đấu F35 thay vì 60 máy bay F16 như dự kiến ban đầu, nâng cấp khả năng tác chiến cho 134 máy bay F16. Sở dĩ Hàn Quốc đổi ý định từ mua F16 sang mua F35 (máy bay tàng hình) là vì Nhật Bản cũng dự định mua 40 máy bay F35 và phía Trung Quốc thì đang phát triển máy bay tàng hình J20 và J31. Ngoài ra nước này còn dự định mua thêm máy bay trực thăng, xem xét mua máy bay không người lái. Hàn Quốc cũng chú trọng phát triển công nghệ tàng hình để cạnh tranh với Nhật Bản và Trung Quốc trong bối cảnh an ninh khu vực ngày càng nóng lên.
Gần đây Hàn Quốc còn tăng cường trang bị bom xuyên phá thông qua hợp đồng mua bom xuyên phá của Mỹ để lắp trên máy bay chiến đấu. Với việc trang bị loại bom xuyên phá này, Hàn Quốc có khả năng tấn công các căn cứ tên lửa hay sân tập kết máy bay chiến đấu ngầm dưới mặt đất của Triều Tiên. Hàn Quốc còn dự định trang bị thêm tên lửa hành trình (của Đức) đánh chặn mục tiêu để có thể tấn công chính xác các khu quân sự chính của Triều Tiên ở gần Bình Nhưỡng như các cơ sở hạt nhân Yongbyon, khu thử nghiệm hạt nhân, căn cứ tên lửa.
4. Đài Loan
Để đáp lại những thay đổi về sức mạnh quân sự của các nước trong khu vực, Đài Loan đã có những hợp đồng mua bán vũ khí với Mỹ để hiện đại hóa quân đội của mình mà điển hình là vụ Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan với hợp đồng trị giá 6,4 tỷ USD vào năm 2010. Trong gói hợp đồng mua bán này phía Đài Loan mua của Mỹ máy bay trực thăng, tên lửa Patriot, tàu dò mìn và tên lửa Harpoon. Tiếp đó Đài Loan thực hiện chương trình nâng cấp máy bay F16 với trị giá 5,8 tỷ USD (do Mỹ nâng cấp). Bên cạnh đó Đài Loan còn nghiên cứu phát triển hệ thống tên lửa “diệt tàu sân bay”. Điều đáng nói ở đây là việc thử nghiệm tên lửa diễn ra vào thời điểm Trung Quốc vừa kết thúc việc chạy thử tàu sân bay. Do đó, có thể thấy rằng Đài Loan vẫn đang không ngừng tăng cường lực lượng quân sự để đáp lại sự gia tăng về sức mạnh quân sự của Trung Quốc.
5. Trung Quốc
Thực hiện “đại chiến lược” quốc gia là vươn lên trở thành cường quốc số 1 thế giới[4], Trung Quốc đã và đang không ngừng tăng cường sức mạnh quân sự với những khoản đầu tư quốc phòng rất lớn, đã tăng từ khoảng 30 tỷ USD vào năm 2000 lên 120 tỷ USD vào năm 2010[5]. Năm 2013, Trung Quốc vẫn giữ vị trí số 1 về chi tiêu quốc phòng ở khu vực châu Á nói chung và Đông Bắc Á nói riêng[6]. Theo tính toán của các nhà chuyên môn, với tốc độ chi tiêu ngân sách quốc phòng của Trung Quốc như những năm qua thì con số này sẽ vượt ngân sách quốc phòng của Mỹ vào năm 2035. Nhờ khoản chi phí quốc phòng lớn này mà chất lượng của quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) được cải thiện đáng kể. Quân đội Trung Quốc hiện nay không chỉ đông về mặt số lượng mà những trang thiết bị chiến đấu cũng ngày càng được hiện đại. Trong những năm đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc đã cho ra mắt các loại phương tiện chiến đấu hiện đại để cạnh tranh với Mỹ như máy bay tàng hình J20, J31, tàu sân bay và các loại vũ khí, khí tài hiện đại. Việc xuất hiện những phương tiện chiến đấu mới này đã gây lo ngại cho các nước trên thế giới nói chung và khu vực Đông Bắc Á nói riêng. Sự tăng cường lực lượng của Trung Quốc không chỉ tăng mức độ an toàn cho quốc gia này mà còn có tác dụng răn đe các nước trong khu vực khi giải quyết các tranh chấp. Hiện nay, Trung Quốc đã lên kế hoạch tự chế tạo tàu sân bay trong nước, theo dự kiến, Trung Quốc sẽ mất khoảng 6 năm để thực hiện dự án chế tạo tàu sân bay và khi đó Trung Quốc sẽ sở hữu 4 tàu sân bay. Bên cạnh đó Trung Quốc cũng chủ trương tăng cường sức mạnh hải quân để thực hiện những tham vọng quốc gia nói chung và chiến lược biển nói riêng.
6. Nga
Trước sự lớn mạnh về quân sự của các nước trong khu vực Đông Bắc Á và những biến động của tình hình thế giới nói chung, Nga cũng có những bước đầu tư cho ngân sách quốc phòng để nâng khả năng chiến đấu của quân đội nhằm đảm bảo an ninh cho mình. Qua đó có thể nhận thấy, Nga chủ trương tăng cường chính sách địa chính trị ở Đông Bắc Á và củng cố lực lượng hải quân ở Thái Bình Dương.
Ngân sách quốc phòng của Nga trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI đã tăng và vào năm 2011 đã tăng khoảng 20% so với năm 2010. Ngân sách này có thể tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo. Gần đây Nga đã lên kế hoạch cải tổ quân đội trong vòng 10 năm với một khoản ngân sách lớn. Theo đó quân đội Nga sẽ tăng cường thêm tên lửa đạn đạo liên lục địa, tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, tàu ngầm, tàu nổi, tàu vũ trụ phục vụ mục tiêu quân sự và xe tăng mới. Kế hoạch cũng bao gồm đầu tư máy bay hiện đại, máy bay trực thăng và nhiều vũ khí, khí tài quân sự khác. Nga tăng cường vũ trang cho Quân khu miền Đông bao gồm cả các đảo thuộc Nam Kuril đang có tranh chấp với Nhật Bản, trang bị mới tàu nổi và tàu ngầm cho hạm đội Thái Bình Dương, khôi phục lại hoạt động tuần tra trực chiến thường xuyên của lực lượng máy bay ném bom chiến lược và tàu ngầm tấn công chiến lược trên các vùng trời và vùng biển quốc tế tại Thái Bình Dương và Bắc Băng Dương. Tháng 1/2012, Nga công bố kế hoạch hiện đại hóa quân đội 2011-2020 với chi phí dự tính 650 tỷ USD trong đó riêng Hạm đội Thái Bình Dương chiếm 1/4 chi phí này. Về đối ngoại, Nga tiến hành tập trận lớn hai năm một lần với Trung Quốc tại khu vực Viễn Đông trong khuôn khổ SCO, tăng cường quan hệ với cả hai miền Nam, Bắc Bán đảo Triều Tiên[7]. Khi mới nhậm chức Tổng thống Nga lần thứ hai ông Putin đã đề cập đến kế hoạch tăng cường sức mạnh quân sự của nước Nga. Ông ta chú trọng đến việc tăng cường sức mạnh của lực lượng hải quân mà trước hết là ở vùng Viễn đông và Bắc Băng Dương. Kế hoạch tăng cường sức mạnh quân sự này được ông Mét-vê-đép, ngay từ khi mới nhậm chức Thủ tướng đã tái khẳng định về việc dành một khoản ngân sách lớn để hiện đại hóa quân đội. Ông ta đã từng nói: “Chúng ta đang có một ngân quỹ khá đầy đủ bởi vậy chúng ta cần đầu tư sản xuất các loại vũ khí mới và một chương trình cải tổ và nâng cấp các tổ hợp phòng thủ”./.
 

[1] Theo Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế IISS, lần đầu tiên trong lịch sử chi tiêu quốc phòng của các nước châu Á vượt qua châu Âu vào năm 2012. Trong khi trước đó theo SIPRI Yearbook 2011, Đông Á trở thành khu vực chi tiêu quốc phòng nhiều thứ 3 thế giới sau Bắc Mỹ và Tây Âu, nhưng dẫn đầu về nhập khẩu vũ khí. Điều đó cho thấy tốc độ gia tăng về chi phí quốc phòng của các nước châu Á nói chung và Đông Bắc Á nói riêng.
[2] Thông tấn xã Việt Nam, Tài liệu tham khảo đặc biệt ngày 6/9/2012, tr.4.
[3] Theo các thỏa thuận về tên lửa của Hàn Quốc ký kết với Mỹ trước đây thì tầm bắn của các tên lửa đạn đạo bị hạn chế là 300 km và lượng chất nổ ở đầu tên lửa là 500 kg.
[4] Trong đại chiến lược của Trung Quốc có 4 giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là làm thế nào để tự lập trên thế  giới- chiến lược sinh tồn; giai đoạn thứ 2 là làm thế nào để hòa nhập với thế giới- chiến lược phát triển; giai đoạn thứ 3 là dẫn đầu thế giới như thế nào- chiến lược trỗi dậy; giai đoạn cuối cùng là lãnh đạo thế giới như thế nào- chiến lược lãnh tụ (Xem: Lưu Minh Phúc, Giấc mơ Trung Quốc, Nxb Thời đại năm 201 l).
[5] Theo Viện Nghiên cứu Hòa bình quốc tế của Thụy Điển (SIPRI)
[6] Theo viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) có trụ sở tại London, Anh.
[7] Xem đề tài cấp bộ “Những vấn đề kinh tế, chính trị nổi bật của khu vực Đông Bắc Á thập niên 201l - 2020" của Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
 

Tác giả bài viết: NGỌC ĐỨC (Sưu tầm và biên tập)
Nguồn tin: Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc