Rss Feed

Menu

Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh
Bông Hồng Xanh
40 năm
tap chi

Thống kê

  • Đang truy cập: 44
  • Khách viếng thăm: 43
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 780
  • Tháng hiện tại: 89737
  • Tổng lượt truy cập: 1737242

Những quy định mới của Điều lệnh cảnh sát khu vực năm 2015

Đăng lúc: Thứ ba - 01/03/2016 16:25 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
      Ngày 10/2/2015, Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 09/2015/ TT-BCA  quy định Điều lệnh Cảnh sát khu vực (CSKV) thay thế cho Quyết định số 106/2007/QĐ-BCA (C11) ngày 13/02/2007. Như vậy, từ khi thành lập lực lượng CSKV (năm 1955) đến nay Bộ Công an đã ban hành 05 bản Điều lệnh CSKV vào các năm 1974, 1987, 1994, 2007 và Điều lệnh CSKV năm 2015. Điều này không chỉ phản ánh sự thay đổi về chức năng, nhiệm vụ gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) của lực lượng được xác định là cơ bản, chiến lược tại địa bàn cơ sở của Ngành Công an mà còn thể hiện sự phát triển ngày càng hoàn thiện của lực lượng này. Điều lệnh CSKV năm 2015 ra đời chính là điều kiện để củng cố, xây dựng lực lượng, tăng cường hiệu quả các mặt công tác, đáp ứng yêu cầu giữ gìn ANTT trong tình hình mới. So với Điều lệnh CSKV trước đây, Điều lệnh CSKV năm 2015 có nhiều quy định mới, cụ thể như sau:
      Thứ nhất, về thể thức văn bản và giá trị pháp lý.
Điều lệnh CSKV năm 2015 được quy định  bằng  hình  thức  Thông  tư,  khác với các bản Điều lệnh CSKV trước đây được ban hành bằng Quyết định của Bộ trưởng. Theo Điều 2, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì Quyết định của Bộ trưởng không phải là văn bản quy phạm pháp luật mà là văn bản áp dụng pháp luật; Thông tư mới là văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, thì: “1. Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.”. Do đó, Điều lệnh CSKV năm 2015 có nội dung chỉ rõ phạm vi điều chỉnh (Điều 1) và đối tượng áp dụng (Điều 2), không chỉ áp dụng đối với CSKV và Công an các đơn vị, địa phương mà còn áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động của CSKV.
      Thứ hai, về khái niệm CSKV.
      Điều 1, Điều lệnh CSKV năm 2007, quy định: “CSKV là Cảnh sát quản lý khu vực, thuộc lực lượng Cảnh sát nhân,công tác tại cơ sở ở thành phố, thị xã, thị trấn, các khu đô thị hóa và địa bàn phức tạp khác về trật tự, an toàn xã hội”. Điều lệnh CSKV năm 2015 không quy định khái niệm mà chỉ xác định vị trí công tác, cụ thể tại Khoản 1, Điều 3, quy định: “CSKV thuộc lực lượng Cảnh sát nhân dân, công tác tại Công an phường, thị trấn, Đồn Công an và Công an xã trọng điểm phức tạp về ANTT”. Như vậy, quy định mới đã xác định rõ CSKV thuộc lực lượng Cảnh sát nhân dân, công tác tại các đơn vị: Công an phường, thị trấn, Đồn Công an và Công an xã trọng điểm phức tạp về ANTT. Đồng thời, không sử dụng cụm từ “quản lý khu vực” trong khái niệm, xuất phát từ sự thay đổi về chức năng “quản lý nhà nước về ANTT  ở khu vực theo sự phân công, phân cấp” thành “thi hành pháp luật về quản lý ANTT”. Sở dĩ có sự thay đổi này là vì việc thực hiện nội dung quản lý nhà nước về ANTT là của cơ quan Nhà nước, còn lực lượng CSKV chỉ áp dụng các quy định của pháp luật để quản lý ANTT, tiến hành thực hiện các công tác cơ bản được quy định từ Điều 5 đến Điều 14 của Thông tư nhằm quản lý tốt địa bàn, làm cơ sở để thực hiện có hiệu quả chức năng “trực tiếp tiến hành các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật”.
      Thứ ba, về xác định nguyên tắc hoạt động của CSKV.
      Điều lệnh CSKV năm 2015 đã đề ra 05 nguyên tắc làm nền tảng, mang tính định hướng và chỉ đạo trong quá trình thực hiện  chức  năng,  nhiệm  vụ  của  CSKV. Các nguyên tắc đã đảm bảo tính thống nhất về công tác lãnh đạo chỉ huy, tính quần chúng trong công tác tiếp xúc với nhân dân, tính nghiêm khắc trong ngăn chặn, xử lý những hành vi sai phạm… nhằm  góp  phần  hình  thành  đạo  đức nghề nghiệp, lề lối làm việc của CSKV. Trong các nguyên tắc này thì nguyên tắc thứ hai: “Dựa vào Nhân dân, phát huy sức mạnh của Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình” và nguyên tắc thứ năm: “Nghiêm cấm việc lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao để sách nhiễu, gây phiền hà, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tiết lộ bí mật cá nhân, bí mật gia đình của công dân trái quy định của pháp luật” là hai nguyên tắc có tính chất đặc thù trong hoạt động của lực lượng này, thể hiện quan điểm quần chúng của Đảng, Nhà nước trong công tác bảo vệ ANTT.
      Thứ tư, sửa đổi, bổ sung những nội dung, thuật ngữ không phù hợp.
      Trong  Điều  lệnh  CSKV  năm  2007 các nội dung và thuật ngữ không còn phù hợp với văn bản pháp luật, văn bản nghiệp vụ hiện nay của Ngành Công an, như: Luật cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013), Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật Công an nhân dân năm 2014, Nghị định 106/2014/NĐ-CP1. Do đó, Điều lệnh CSKV năm 2015 đã sửa đổi bổ sung những nội dung, thuật ngữ không còn phù hợp, cụ thể như: Thay đổi cụm từ “tạm trú, tạm trú có thời hạn” bằng “tạm trú, lưu trú”, cụm từ “quản lý hộ khẩu, nhân khẩu” bằng cụm từ “quản lý cư trú”; thay đổi cụm từ “cơ sở giáo dục” bằng “cơ sở giáo dục bắt buộc”, “cơ sở chữa bệnh” bằng “cơ sở cai nghiện bắt buộc”; thay đổi cụm từ “phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc” bằng “phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; thay đổi cụm từ “mạng lưới cơ sở bí mật” bằng “cơ sở bí mật”…
      Thứ năm, sắp xếp và cơ cấu lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.
Điều lệnh CSKV năm 2015 đã bổ sung, sửa đổi một số nhiệm vụ cho phù hợp với quy định mới và yêu cầu công tác CSKV: Từ 9 nhiệm vụ (Điều 3 đến Điều 11) trong Điều lệnh CSKV năm 2007 thành 10 nhiệm vụ (Điều 5 đến Điều 14), cụ thể: Đối với nhiệm vụ quản lý cư trú: Cơ cấu lại theo hướng những nội dung phải thực hiện, không quy định phải nắm riêng biệt đối với từng hộ gia đình, nhà ở tập thể hay hộ khẩu cá nhân mà quy định chung đối với từng hộ, nhân khẩu cần nắm những gì, bổ sung thêm nội dung cần  nắm  về  đặc  điểm  chỗ  ở  của  từng hộ. Bổ sung thêm nhiệm vụ tham gia xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về cư, đây là nhiệm vụ mới đối với CSKV, không chỉ ở trách nhiệm tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật về căn cước công dân, thu thập thông tin về công dân mà còn đặt ra yêu cầu về khai thác, sử dụng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ cho công tác nghiệp vụ. Đối với công tác nghiệp vụ cơ bản: Xác định rõ nhiệm vụ trong thực hiện công tác nghiệp vụ cơ bản, bao gồm: Điều tra cơ bản, quản lý đối tượng sưu tra, phối hợp trong công tác xác minh hiềm nghi, đấu tranh chuyên án khi có yêu cầu, xây dựng và sử dụng cộng tác viên bí mật và phối hợp thực hiện công tác nghiệp vụ cơ bản về lĩnh vực an ninh chính trị. Đồng thời, nhiệm vụ này đã bỏ nội dung xây dựng cộng tác viên danh dự cho phù hợp với quy định của Thông tư số 22/2013/ TT-BCA  của  Bộ  Công  an2.  Đối  với nhiệm vụ giải quyết các vụ việc về ANTT đã quy định cụ thể các nội dung cần thực hiện theo trình tự khi giải quyết vụ, việc nghiêm  trọng,  phức  tạp  cho phù hợp với quy định của Thông tư số 09/2012/ TT-BCA của Bộ Công an3. Riêng nhiệm vụ “thực hiện công tác bảo vệ và làm các việc khác thuộc chức năng của CSKV do Công an cấp trên giao” được gộp chung là “thực hiện các nhiệm vụ khác do Công an cấp trên giao”. Mặt khác, so với Điều lệnh CSKV năm 2007, Điều lệnh CSKV năm 2015 đã quy định cụ thể, chi tiết nhiệm vụ thực hiện các nội dung khác của quản lý hành chính về ANTT gắn với công tác của CSKV, bao gồm: Quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT (Điều 12) và quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo (Điều 13). Về quyền hạn của CSKV được bổ sung thêm quyền hạn mới mà trước đây chưa quy định, chẳng hạn như: Khám người, phương  tiện  vận  tải,  đồ  vật  theo  quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; nâng số quyền hạn của CSKV là 9 quyền hạn.
      Thứ sáu, về mô hình bố trí CSKV.
     Việc bố trí CSKV được thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình hiện nay, theo đó chỉ bố trí CSKV tại Công an phường, thị trấn, đồn Công an và xã trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự nơi có Trưởng, Phó Trưởng Công  an xã là Công an chính quy để có sự thống nhất trong công tác chỉ đạo thực hiện.
Mặt  khác,  mô  hình  bố  trí  CSKV  phụ trách địa bàn được thay đổi nhằm đảm bảo tiết kiệm biên chế và hiệu quả công tác; không phân thành 3 loại địa bàn quy định cụ thể số nhân, hộ khẩu như Điều lệnh CSKV năm 2007 mà chỉ phân thành 2 loại địa bàn quy định số hộ, nhân khẩu tối đa và tối thiểu để Công an các địa phương chủ động, linh hoạt bố trí CSKV.
      Thứ bảy, về  tiêu  chuẩn  và  quan  hệ công tác của CSKV.
      Điều lệnh CSKV năm 2007 chỉ quy định những nội dung cơ bản về tiêu chuẩn của CSKV trong nội dung tổ chức của lực lượng này, chẳng hạn như: Không bố trí chuyển đổi những đồng chí phẩm chất năng lực yếu, không làm được việc ở các lực lượng khác làm CSKV; nếu chưa được đào tạo Chuyên ngành Quản lý hành chính về trật tự xã hội thì phải được bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ Chuyên ngành Quản lý hành chính về trật tự xã hội. Trên cơ sở đó, Điều lệnh CSKV năm 2015 quy định cụ thể các tiêu chuẩn của CSKV, đó là: Phải đáp ứng tiêu chuẩn nghiệp vụ chức danh Cảnh sát viên của lực lượng Cảnh sát nhân dân từ sơ cấp trở lên, được đào tạo Chuyên ngành Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (trường hợp chưa được đào tạo chuyên ngành này thì phải được bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ theo nội dung, chương trình của Tổng cục Cảnh sát); phải đáp ứng tiêu chí không dị hình, dị tật, nói lắp; không bố trí làm CSKV người đang bị kỷ luật hoặc xem xét kỷ luật, chưa hết thời hạn kỷ luật và phải có khả năng giao tiếp, vận động quần chúng. Với quy định này sẽ góp phần chuẩn hóa về khả năng thực hiện nhiệm vụ, tránh luân chuyển, điều động cán bộ làm CSKV mà không có kiến thức nghiệp vụ cũng như năng lực phù hợp. Điều lệnh mới cũng đồng thời sắp xếp lại quy định về quan hệ công tác của CSKV theo hướng tinh giản và khái  quát  nhằm  giúp  CSKV  linh  hoạt hơn trong quan hệ công tác với các cá nhân và đơn vị có liên quan, loại bỏ một số quan hệ công tác không còn phù hợp với thực tế.
     Tóm lại, Điều lệnh CSKV năm 2015 được ban hành đã thể hiện tinh thần đổi mới đối với lực lượng CSKV trên nhiều phương diện, khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong công tác là điều kiện quan trọng đối với việc xây dựng, phát triển lực lượng CSKV, đáp ứng yêu cầu bảo vệ ANTT ở địa bàn cơ sở trong tình hình mới. Để thống nhất nhận thức trong hướng dẫn, chỉ đạo cũng như triển khai thực hiện các mặt công tác của CSKV theo quy định mới thì lãnh đạo Công an các cấp, các đơn vị nghiệp vụ, đặc biệt là Công an phường, thị trấn, xã trọng điểm về ANTT và lực lượng CSKV phải nắm vững, triển khai, quát triệt và thực hiện đúng theo quy định của Điều lệnh CSKV năm 2015.
Tác giả bài viết: TS. Nguyễn Ngọc Sơn - Trung tá, Phó Trưởng Khoa Nghiệp vụ QLHC về TTXH, Trường Đại học CSND
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 66 (tháng 9/2015)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 14 trong 5 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc