Rss Feed
Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh
Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật
Bông Hồng Xanh
tap chi

Thống kê

  • Đang truy cập: 23
  • Khách viếng thăm: 20
  • Máy chủ tìm kiếm: 3
  • Hôm nay: 2538
  • Tháng hiện tại: 141696
  • Tổng lượt truy cập: 3356731

Những điểm mới về các biện pháp tha, miễn trong Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Đăng lúc: Thứ sáu - 11/05/2018 02:51 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
        1. Nhận thức chung về các biện pháp tha, miễn trong luật Hình sự Việt Nam
        Khi nghiên cứu về các biện pháp tha, miễn trong luật Hình sự Việt Nam, về mặt pháp lý, chế định chung này không được BLHS năm 2015 quy định một cách cụ thể; cũng như về mặt khoa học, có ít công trình, đề tài nghiên cứu về vấn đề này nên chưa có sự chuẩn hoá về khái niệm “biện pháp tha, miễn trong luật hình sự”, nhưng qua nghiên cứu quan điểm của các nhà khoa học luật hình sự và bản chất pháp lý của các quy định trong BLHS năm 2015 cho phép đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm biện pháp tha, miễn như sau: Biện pháp tha, miễn trong luật hình sự là quy phạm (hoặc chế định) mang tính chất nhân đạo, phản ánh sự khoan hồng của Nhà nước đối với những người phạm tội và được cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng chỉ trong một số trường hợp nhất định khi có đầy đủ các căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định1.
        Trong BLHS năm 2015 các biện pháp tha, miễn được quy định tại 04 chương với 19 điều, cụ thể: Chương V “Thời hiệu truy cứu TNHS, miễn TNHS” với 3 điều (từ Điều 27 đến Điều 29), Chương VIII “Quyết định hình phạt” với 02 điều (Điều 54 và Điều 59) Chương IX “Thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt (CHHP), giảm thời hạn CHHP” với 9 điều (từ Điều 60 đến Điều 68) và Chương X “Xóa án tích” với 5 điều (từ Điều 69 đến Điều 73). Ngoài ra, còn có một số biện pháp tha, miễn mang tính đặc thù đối với 2 chủ thể của tội phạm đặc biệt là pháp nhân thương mại phạm tội và người dưới 18 tuổi phạm tội. Qua phân tích cụ thể các quy định về biện pháp tha, miễn sẽ bao gồm có 12 chế định như sau: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS); Thời hiệu thi hành bản án; Miễn TNHS; Miễn hình phạt; Miễn CHHP; Giảm mức hình phạt đã tuyên; Giảm thời hạn CHHP trong trường hợp đặc biệt; Án treo; Tha tù trước thời hạn có điều kiện; Hoãn CHHP tù; Tạm đình chỉ CHHP tù; Xóa án tích.
        Qua việc nghiên cứu những quy định về các biện pháp tha, miễn trong BLHS năm 2015, chúng ta có thể nhận thấy những biện pháp tha, miễn có một số đặc điểm như sau:
        Một là, các biện pháp tha, miễn trong BLHS năm 2015 là những chế định mang tính chất nhân đạo xã hội chủ nghĩa, thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước trong phương hướng, đường lối xử lý hình sự đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội;
        Hai là, các biện pháp tha, miễn trong BLHS năm 2015 không phải là những biện pháp cưỡng chế hình sự như hình phạt và các biện pháp tư pháp trong BLHS mà chỉ nhằm khuyến khích, giáo dục, cải tạo người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội tích cực, tự giác cải tạo bản thân, sửa chữa lỗi lầm, nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng;
        Ba là, các biện pháp tha, miễn trong BLHS năm 2015 là những chế định đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật, được quy định chặt chẽ qua những quy định về điều kiện và đối tượng được áp dụng;
        Bốn là, biện pháp tha, miễn được quy định trong BLHS năm 2015 phải do những cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền đánh giá, xem xét áp dụng chỉ trong một số trường hợp nhất định.
        2. Những điểm mới về các biện pháp tha, miễn trong BLHS năm 2015
        Những điểm mới của BLHS năm 2015 đã thể hiện một số thay đổi về chích sách hình sự của Nhà nước ta. Sự thay đổi này nhằm tương thích với pháp luật quốc tế, đồng thời phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội cũng như thể hiện được ý chí, nguyện vọng của toàn dân. Một trong những chính sách đó chính là việc một số quy định được sửa đổi, bổ sung, thay thế đã thể hiện tinh thần của Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Cụ thể một trong những nhiệm vụ cải cách tư pháp là sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm. Khắc phục tình trạng hình sự hóa quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự và bỏ lọt tội phạm. Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế2. Những chính sách trên của Đảng đều mang tính nhân đạo trong phương hướng, biện pháp xử lý đối với người phạm tội. Chính vì vậy những thay đổi trong BLHS năm 2015 về những chế định liên quan đến các biện pháp tha, miễn đã thể hiện rõ tinh thần này.
        Qua việc nghiên cứu những quy định về các biện pháp tha, miễn trong BLHS năm 2015, chúng ta có thể nhận thấy những điểm mới như sau:
        a. Những chế định liên quan đến các biện pháp tha, miễn áp dụng trong trường hợp thông thường
        - Chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và chế định thời hiệu thi hành bản án
        Theo quy định tại Điều 27 BLHS năm 2015 thì thời hiệu truy cứu TNHS là thời hạn do BLHS quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu TNHS và theo quy định tại Điều 60 BLHS năm 2015 thì thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án, pháp nhân thương mại bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên. Như vậy, đây là những biện pháp tha, miễn được áp dụng do hết thời hiệu để truy cứu TNHS hoặc hết thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội hoặc bị kết án (sau một thời hạn nhất định do luật định đã qua, đồng thời khi có đầy đủ căn cứ và những điều kiện được ghi nhận trong BLHS thì người phạm tội không thể bị Nhà nước truy cứu TNHS hoặc phải chấp hành bản án).
        Tuy nhiên, Điều 28 BLHS năm 2015 lại quy định về những tội phạm không áp dụng thời hiệu truy cứu TNHS và Điều 61 BLHS năm 2015 quy định về những tội phạm không áp dụng thời hiệu thi hành bản án. Theo đó, ngoài việc kế thừa quy định như trong BLHS năm 1999, những chế định mang tính nhân đạo này của pháp luật hình sự không được áp dụng đối với 2 nhóm tội phạm đặc biệt nguy hiểm là Các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Chương XIII) và Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (Chương XXVI). Bên cạnh đó, Điều 28 và Điều 61 BLHS năm 2015 còn được bổ sung quy định mới đối với 2 tội danh gồm tội tham ô tài sản (Điều 353) và tội nhận hối lộ (Điều 354) thuộc các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng cũng không được áp dụng những chế định nhân đạo này. Như vậy, quy phạm mới bổ sung về việc không được áp dụng thời hiệu truy cứu TNHS đã phần nào thể hiện quyết tâm của Nhà nước trong việc kiên quyết trừng trị nghiêm khắc người phạm tội với mục đích loại trừ được những hành vi tham nhũng ở Việt Nam hiện nay nhằm củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, chính sách của Nhà nước và năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật. Đồng thời còn thể hiện sự thống nhất giữa Việt Nam và các nước trên thế giới trong phương hướng đấu tranh, xử lý kiên quyết đối với những tội phạm phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.
        - Chế định miễn TNHS
        Chế định miễn TNHS được quy định tại Điều 29 BLHS năm 2015, gồm 3 khoản với 4 điểm mới như sau:
        Một trong hai căn cứ được miễn TNHS (dạng bắt buộc) liên quan đến hành vi phạm tội được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 29 là quy định mới “Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Đồng thời, thay đổi căn cứ được miễn TNHS “Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” từ dạng bắt buộc sang dạng tuỳ nghi.
        Trong khi đó, BLHS năm 2015 đã bổ sung một trong những căn cứ có thể được miễn TNHS (dạng tùy nghi) đối với người phạm tội quy định tại điểm c khoản 2 Điều 29 bằng cụm từ “... và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận”.
        Ngoài ra, khoản 3 là quy định mới của Điều 29, được bổ sung như một căn cứ để có thể được miễn TNHS (dạng tùy nghi) nếu người phạm tội đáp ứng đầy đủ các điều kiện.
        - Chế định miễn hình phạt
        So với quy định trong BLHS năm 1999, quy định tại Điều 54 và Điều 59 BLHS năm 2015 về chế định miễn hình phạt đã được sửa đổi, quy định cụ thể hơn những trường hợp được miễn hình phạt. Theo đó, nếu người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 hoặc người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn TNHS thì có thể được miễn hình phạt.
        - Chế định miễn chấp hành hình phạt
        Về cơ bản, các quy định tại Điều 62 BLHS năm 2015 về miễn CHHP điều này tương tự như quy định tại BLHS năm 1999. Tuy nhiên, khi phân tích quy phạm của chế định này cho thấy một số điểm mới như sau:
        Khoản 2 ngoài việc bổ sung một căn cứ miễn CHHP (dạng tuỳ nghi) đối với người bị kết án đó là “Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Đồng thời còn quy định giới hạn người bị kết án tù có thời hạn đến 03 năm tù chứ không quy định chung chung là “tù có thời hạn” như quy định tại khoản 1 Điều 57 BLHS năm 1999. Ngoài ra, cũng đã quy định rõ ràng hơn về trường hợp xét miễn CHHP đối với người sau khi bị kết án đã “lập công” thay vì “lập công lớn” như quy định trước đây nhằm tránh khó khăn trong việc xác định lập công mức độ nào thì được coi là lớn.
        Bổ sung khoản 7, quy định mới về việc “Người được miễn CHHP vẫn phải thực hiện nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án”.
        - Chế định giảm mức hình phạt đã tuyên
        Những nội dung liên quan đến chế định giảm mức hình phạt đã tuyên được quy định tại Điều 63 BLHS năm 2015 vẫn được kế thừa, giữ nguyên so với trong BLHS năm 1999. Tuy nhiên, chế định này cũng có một số điểm mới sau đây:
        Thay thế cụm từ rất dài “cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao trách nhiệm trực tiếp giám sát, giáo dục” bằng cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền”. Quy định này sẽ bao quát nhiều chủ thể áp dụng biện pháp tha, miễn này, tạo điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng;
        Bổ sung khoản 4 quy định điều kiện cụ thể giảm lần đầu cho người bị kết án đã được giảm một phần hình phạt mà lại phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý;
        Bổ sung khoản 6 quy định các điều kiện để được xét giảm lần đầu cho người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình về tội tham ô hoặc tội nhận hối lộ hoặc đối với người đủ 75 tuổi trở lên thuộc trường hợp quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều 40 của BLHS năm 2015.
        - Chế định án treo
        Chế định án treo được quy định tại Điều 65 BLHS năm 2015 gồm những điểm mới như sau:
        Bổ sung một số quy định thuộc dạng viện dẫn như tòa án phải buộc người bị án treo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự (khoản 1 và khoản 5);
        Bổ sung thêm quy định “Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này” (khoản 3);
        Bổ sung quy định “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải CHHP tù của bản án đã cho hưởng án treo” (khoản 5).
        - Chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện
        Một trong những điểm mới cơ bản của BLHS năm 2015 là lần đầu tiên BLHS năm 2015 đã quy định về chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66) nhằm tạo điều kiện cho người đang CHHP tù có cơ hội được trở về với cộng đồng sớm hơn nhưng phải chịu sự giám sát của chính quyền cơ sở khi về sinh sống tại cộng đồng, điều này góp phần đảm bảo an ninh trật tự, hạn chế khả năng tái phạm của họ. Mặc dù là một chế định hoàn toàn mới được quy định trong BLHS năm 2015 nhưng tha tù trước thời hạn có điều kiện cũng là một trong những giải pháp để rút ngắn thời gian phải CHHP tù trong trại giam. Qua việc phân tích các quy phạm của chế định này cho thấy một số điểm mới cơ bản như sau:
        Khoản 1 quy định cụ thể về những điều kiện bắt buộc người đang CHHP tù phải đáp ứng đầy đủ thì mới được giảm án tha tù trước thời hạn. Ngoài ra, khoản 1 thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự khi còn quy định giảm nhẹ hơn điều kiện về thời gian đã CHHP tù đối với một số đối tượng chính sách nhất định thuộc diện ưu tiên, cụ thể như: người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
        Khoản 2 quy định những trường hợp cụ thể mà người bị kết án không được hưởng chế định nhân đạo này đó là: người bị kết án về một trong Các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Chương XIII), Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (Chương XXVI), Tội khủng bố (Điều 299); người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong Các tội xâm phạm sở hữu (Chương XIV) do cố ý hoặc người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội sản xuất trái phép chất ma túy, tội mua bán trái phép chất ma túy và tội chiếm đoạt chất ma túy; Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 BLHS năm 2015.
        Khoản 3 quy định về thời gian thử thách và thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện và nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
        Khoản 4 quy định các chế tài được áp dụng đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện mà vi phạm pháp luật trong thời gian thử thách.
        Khoản 5 quy định các điều kiện mà người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có thể được rút ngắn thời gian thử thách.
        - Chế định hoãn chấp hành hình phạt tù và chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù
        Những quy định tại Điều 67 và Điều 68 BLHS năm 2015 về những biện pháp tha, miễn này được giữ nguyên nội dung so với Điều 61 và Điều 62 BLHS năm 1999, đều được áp dụng đối với người bị xử phạt tù gặp những điều kiện khó khăn đặc biệt về sức khỏe, về kinh tế, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ nên được hoãn CHHP tù.
        - Chế định xóa án tích
        Chế định xoá án tích được quy định tại Chương X BLHS năm 2015, từ Điều 69 đến Điều 73 gồm có những điểm mới như sau:
        Khoản 2 Điều 69 bổ sung quy định mới về đối tượng không bị coi là có án tích là: Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt.
        Đối với những trường hợp đương nhiên được xóa án tích, BLHS năm 2015 vẫn giữ nguyên những điều kiện được quy định trong BLHS năm 1999, đồng thời bổ sung thêm một số quy định mới cũng như quy định cụ thể hơn về điều kiện mới đối với người bị kết án là: hết thời gian thử thách án treo (nếu bị xử phạt án treo), đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Đồng thời, BLHS năm 2015 còn quy định các thời hạn không được phạm tội mới trong thời gian thử thách đối với từng loại và mức hình phạt đã áp dụng. Ngoài ra, BLHS năm 2015 cũng bổ sung thêm quy định đối với người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 70 thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung. Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 70 bổ sung quy định mới về trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.
        Đối với những trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án, BLHS năm 2015 đã quy định cụ thể, phân hóa TNHS cho từng trường hợp. Các quy định tại điều này là sửa đổi, bổ sung các quy phạm về việc xoá án tích với các điều kiện chặt chẽ hơn so với các điều kiện đương nhiên xóa án tích, thu hẹp phạm vi áp dụng biện pháp tha, miễn này.
        Khoản 3 Điều 73 bổ sung thêm quy định về cách tính thời hạn để xóa án đối với người phạm nhiều tội.
        b. Những chế định liên quan đến các biện pháp tha, miễn áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội và người dưới 18 tuổi phạm tội
        - Đối với pháp nhân thương mại phạm tội
        Những chế định liên quan đến pháp nhân thương mại đều là những quy định mới trong BLHS năm 2015. Đây là điểm tiến bộ trong tư duy lập pháp, không chỉ bắt buộc người phạm tội mới phải chịu TNHS mà kể cả pháp nhân thương mại cũng không được loại trừ TNHS khi đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và gây ra hậu quả đáng kể. Theo khoản 1 Điều 75 BLHS năm 2015 thì pháp nhân thương mại chỉ bắt buộc phải chịu TNHS nếu có đủ 04 điều sau: khi tội phạm được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân và tội phạm đó chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Điều 76 BLHS năm 2015 cũng quy định thêm phạm vi chịu TNHS của pháp nhân thương mại. Theo đó, phạm vi chịu TNHS của pháp nhân thương mại phạm tội được thu hẹp đáng kể khi phải chịu TNHS nếu thỏa mãn các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 75 và phạm một trong 33 tội được quy định tại Điều 76. Qua đó cho thấy tinh thần nhân đạo, chính sách khoan hồng của Nhà nước ta trong đường lối xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội.
        Ngoài ra, theo quy định tại Điều 88 BLHS năm 2015 thì pháp nhân thương mại phạm tội có thể được miễn hình phạt khi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Như vậy, BLHS năm 2015 không quy định trường hợp đương nhiên được miễn TNHS (dạng bắt buộc) mà chỉ quy định về những điều kiện để xem xét miễn TNHS (dạng tùy nghi) đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Bên cạnh đó, Điều 89 BLHS năm 2015 cũng quy định pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới.
        - Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
        Nhà nước ta luôn có những chính sách nhân đạo, khoan hồng trong phương hướng xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, luôn xác định chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội chứ không nhằm mục đích trừng trị. Những quy định luôn mở rộng phạm vi áp dụng theo theo xu hướng có lợi hơn so với người phạm tội từ đủ 18 tuổi trở lên như mở rộng phạm vi áp dụng biện pháp miễn TNHS. Đồng thời hạn chế áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính răn đe, trừng trị cao như: Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
        Do đó, trong BLHS năm 2015 luôn có những quy định về các biện pháp tha, miễn theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng và hạn chế các điều kiện không áp dụng, chủ yếu dựa trên ý thức cải tạo, chấp hành tốt thì người dưới 18 tuổi phạm tội đều có thể được áp dụng các biện pháp tha, miễn. Những quy định áp dụng các biện pháp tha, miễn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như giảm mức hình phạt đã tuyên, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xoá án tích về cơ bản đảm bảo một số điều kiện như đối với người từ đủ 18 tuổi phạm tội tuy nhiên phạm vi áp dụng được mở rộng đồng thời thu hẹp một số điều kiện ràng buộc như: người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 91); người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu có tiến bộ và đã chấp hành được một phần tư thời hạn, thì được Tòa án xét giảm (khoản 1 Điều 105); giới hạn thu hẹp các điều kiện áp dụng biện pháp tha tù trước hạn so với trường hợp thông thường (Điều 106); mở rộng phạm vi không bị coi là có án tích đối với người chưa thành niên phạm tội (khoản 1 Điều 107), hạn chế việc truy cứu TNHS (khoản 3 Điều 91)... 
Tác giả bài viết: Nguyễn Nhất Vũ
Nguồn tin: Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 99.
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (28/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (13/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)

Số: Chỉ thị số 14-CT/TW
Tên: (Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng)

Ngày BH: (18/07/2017)

Số: 1884/QyĐ-T48
Tên: (Quy định về văn hóa ứng xử của cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Trường Đại học CSND)

Ngày BH: (12/10/2017)

Số: 27/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân)

Ngày BH: (21/08/2017)

Số: 124/2015/NĐ-CP
Tên: (NGHỊ ĐỊNH SỐ 185/2013/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2013)

Ngày BH: (14/11/2013)