Rss Feed

Nâng cao hiệu quả tự học tiếng Anh của sinh viên Trường Đại học CSND

Đăng lúc: Thứ hai - 20/08/2018 22:56 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
Thông qua đánh giá ý thức và kết quả quá trình tự học môn tiếng Anh của sinh viên Trường Đại học Cảnh sát nhân dân trong thời gian qua, nhận diện những yếu tố tác động, cản trở đối với việc tự học tiếng Anh của sinh viên, trên cơ sở đó bài viết đưa ra một số giải pháp góp phần cải thiện nâng cao hiệu quả năng lực tự học tiếng Anh của sinh viên Trường Đại học Cảnh sát nhân dân.
        1. Đặt vấn đề
        Để khuyến khích sinh viên trở thành những học viên tiếng Anh độc lập (au­tonomous learners), các trường đại học lớn trên thế giới và trong khu vực đã áp dụng đa dạng nhiều giải pháp như cung cấp cơ sở vật chất để’ thành lập các Trung tâm tự học, đánh giá bằng điểm số đối với các bài tập về nhà giao cho sinh viên hay tích hợp riêng một module tự học vào chương trình học tiếng Anh. Tuy nhiên, vẫn tồn tại rất nhiều thách thức đối với giảng viên - những người có trách nhiệm hỗ trợ sinh viên hình thành ý thức “học tập độc lập”.
        Học tập độc lập hay “tự học” là một thuật ngữ miêu tả phương thức người học chủ động thực hành và duy trì việc học của bản thân nhằm đạt được những mục tiêu học tập với ý chí và tinh thần trách nhiệm cao[1]. Trước hết, họ cần nhận được những hướng dẫn cụ thể làm thế nào xây dựng “ý thức tự học” để tự mình tích luỹ thêm những kiến thức cần thiết thay vì ngồi chờ đợi giảng viên truyền đạt kiến thức. Ngoài ra, sinh viên còn có thể tận dụng các cơ hội mà thời đại công nghệ 4.0 cung cấp như máy tính cá nhân, máy tính bảng và điện thoại thông minh. Họ có thể học từ bất kỳ ai và ở bất cứ nơi nào: không chỉ từ các giảng viên mà còn từ tài liệu - giáo trình, hay các tài nguyên học tập khác.
        Mặt khác, dù đại đa số sinh viên tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân có thể tiếp cận phương pháp học tiếng Anh bằng công nghệ, nhưng hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá cụ thể tần suất sử dụng, hiệu suất cũng như mức độ hài lòng của họ đối với phương pháp này. Sự tự đánh giá về năng lực ngôn ngữ - lòng tin có thể học tập ngôn ngữ của bản thân sinh viên - có thể ảnh hưởng sâu sắc đến việc tự học: Nó điều khiển và xác định hành vi của họ đối với thành công hay thất bại trong cuộc sống và học tập nói chung và đối với việc học tập ngoại ngữ nói riêng[2].
        Một vấn đề thu hút sự quan tâm khác chính là mối quan hệ giữa lòng tin và thái độ của người học: những sinh viên có niềm tin tích cực thường có xu hướng trở thành “người học độc lập” dễ dàng hơn những sinh viên thiếu tự tin. Trong nghiên cứu về việc áp dụng hệ thống quản lý chương trình tự học tiếng Anh tại Đại học King Mongkut Thonbury (Thái Lan), Sanprasert (2010) khẳng định giảng viên nhất thiết phải xây dựng được thái độ học tập ngoại ngữ tích cực cho sinh viên, qua đó góp phần cải biến hành vi học ngoại ngữ - đặc biệt là quá trình tự học.
        2. Những yếu tố tác động ảnh hưởng và trở ngại đối với việc tự học tiếng Anh của sinh viên Trường Đại học Cảnh sát nhân dân
        Có ít nhất 4 yếu tố tác động, ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ tự học tiếng Anh tích cực của sinh viên Trường Đại học Cảnh sát nhân dân: tình yêu ngôn ngữ, tầm quan trọng của tiếng Anh, kiến thức nền và phong cách học tập.
        Trao đổi với những sinh viên học khá tiếng Anh, họ cho biết có niềm yêu thích ngoại ngữ và học tiếng Anh đem lại niềm vui cùng những cảm xúc tích cực. Họ cũng hoàn toàn đồng ý rằng tiếng Anh là một công cụ quan trọng để tìm hiểu thế giới cũng như phục vụ công việc trong tương lai; khẳng định đó chính là lý do tại sao họ muốn học tiếng Anh tốt hơn. Đối với những sinh viên ít hứng thú, họ thể hiện một thái độ thiếu tích cực. Họ cho rằng tiếng Anh khó tiếp thu, khó có thể tự học một mình và với thái độ hoài nghi như vậy, họ vẫn thích lựa chọn học tại lớp cùng với giảng viên hơn. Một yếu tố quan trọng khác tác động đến thái độ học tập Tiếng Anh chủ động là mức độ phong phú và vững chắc của kiến thức nền tiếng Anh. Đại bộ phận những sinh viên khá giỏi (trên 90%) thống nhất với quan điểm rằng tình yêu tiếng Anh của họ có được một phần nhờ vào nền tảng kiến thức cơ bản đã tích luỹ trong khi những sinh viên trung bình và yếu không sở hữu nhiều kiến thức nền như vậy. Những tri thức về xã hội và ngôn ngữ Anh sẵn có sẽ giúp sinh viên hiểu được kiến thức mới, kết nối với kiến thức cũ và sắp xếp tổ chức chúng một cách khoa học. Bên cạnh đó, thái độ học tập tiếng Anh chủ động phải được xây dựng phù hợp với “phong cách học tập cá nhân” của mỗi sinh viên. Kin- sella (1995) định nghĩa đây là “cách thức tự nhiên theo thói quen ưa thích của một cá nhân trong việc thẩm thấu, xử lý và giữ lại những kỹ năng và thông tin mới”. Cụ thể’, phong cách học tập tiếng Anh thể hiện cách sinh viên tiến hành học tập như thế nào: hướng ngoại hay hướng nội, làm việc cá nhân hay làm việc cặp/ nhóm, và quan trọng nhất là có thể áp dụng hay điều chỉnh các chiến lược tự học với phong cách học tập bản thân cho phù hợp hoàn cảnh hay không. Điều này cũng giải thích lý do tại sao một số lượng lớn sinh viên tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân gặp nhiều khó khăn hơn khi tự học: họ đã quen với môi trường lớp học truyền thống và phong cách học thụ động tiếp thu kiến thức ngoại ngữ do giảng viên truyền thụ trong khi việc tự học đòi hỏi sự tự chủ mạnh mẽ và toàn diện hơn từ phía người học.
        Kết quả nghiên cứu và quan sát trên thực tế quá trình sinh viên tự học tiếng Anh tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân chỉ ra 4 khó khăn liên quan đến các khía cạnh sau: Kỹ thuật, thời gian, điểm số và hứng thú của người học.
        Về vấn đề kỹ thuật, các yếu tố phải chú ý đầu tiên chính là hệ thống máy tính vận hành và trang thiết bị. Hiện nay, 02 phòng LAB trang bị cho Bộ môn Ngoại ngữ đã qua thời hạn khấu hao, hệ thống điều khiển tích hợp trong phòng máy lạc hậu và thường gặp trục trặc về kỹ thuật. Số lượng lớp học tiếng Anh trong mỗi học kỳ rất lớn và không phải lớp nào cũng được xếp lịch sử dụng phòng LAB. Mặt khác, phần mềm vận hành phòng LAB hiện tại chỉ được thiết kế cho việc thực hành kỹ năng nói giữa sinh viên với nhau mà không hỗ trợ cho việc tự học toàn diện các kỹ năng khác. Hệ quả là không nhiều sinh viên có thể tiếp cận và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất và trang thiết bị của nhà trường dành cho việc tự học.
        Về phương diện thời gian, các cuộc khảo sát - phỏng vấn của giảng viên Bộ môn Ngoại ngữ về việc tự học tiếng Anh của sinh viên tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân trong 03 năm học gần đây cho thấy việc tự học hoàn toàn dựa trên tinh thần tự giác của bản thân người học nên hiệu quả không như mong đợi. Theo thống kê, dưới 10% sinh viên chủ động sắp xếp thời khoá biểu tự rèn luyện các kỹ năng và ôn tập kiến thức môn tiếng Anh hàng ngày. Hơn 90% sinh viên chỉ học cầm chừng, đối phó - không ghi chép bài đầy đủ, không làm bài tập tại lớp hay hoàn thành các bài tập trong sách Work­book. Nguyên nhân bởi vì họ cho rằng học tiếng Anh không thú vị và cũng không cần thiết cho công tác sau này.
        Đánh giá tự học thông qua điểm số cụ thể’ từng được thực hiện trong một vài năm học trước nhưng đã dừng lại do nặng tính hình thức và không đánh giá được thực chất việc tự học của sinh viên. Các phản hồi cho thấy những sinh viên yếu thường mượn vở tự học của sinh viên khá giỏi chép lại nhằm đối phó chứ không thực sự làm bài tập hàng ngày. Mặt khác, việc chấm vở tự học chỉ được thực hiện duy nhất vào cuối mỗi học phần và chỉ chiếm 10% điểm số đánh giá, do đó không thực sự là động lực thúc đẩy sinh viên tự học.
        Hứng thú của sinh viên đối với môn học cũng là yếu tố hết sức quan trọng: Nó đóng vai trò là động cơ học tập tự thân của các sinh viên khá giỏi đồng thời lại là trở ngại đối với những sinh viên yếu tiếng Anh. Những sinh viên này thường bộc lộ cảm xúc tiêu cực, chán nản khi được hỏi về chương trình học, về động cơ học tập hay việc tự học. Do không hiểu bài cũng như không nhận được sự hỗ trợ kịp thời từ phía giảng viên hay bạn học, họ ngày một sa sút và mất đi hứng thú tự học tiếng Anh.
        3. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả tự học tiếng Anh của sinh viên Trường Đại học Cảnh sát nhân dân
        Để nâng cao hiệu quả tự học tiếng Anh, phát huy tinh thần chủ động sáng tạo trong việc học tập, sinh viên Trường Đại học Cảnh sát nhân dân cần tiến hành các nội dung sau:
        Một là, tích hợp module tự học tiếng Anh vào chương trình học chính khoá
        Bộ môn Ngoại ngữ có thể đặt hàng các chuyên gia thiết kế một module tự học tích hợp vào chương trình học tiếng Anh chính khoá. Mỗi sinh viên cần thực hiện ít nhất 1 giờ tự học tại phòng LAB mỗi tuần và chúng ta cần cài đặt chương trình theo dõi quá trình đăng nhập - học tập tiếng Anh của sinh viên trong giờ hành chính cũng như vào buổi tối. Với module tự học này, sinh viên có thể tự lựa chọn các chương trình/ trang web học tiếng Anh lưu trên máy tính hoặc trên trang web thư viện của Nhà trường. Họ có thể lựa chọn nâng cao kiến thức ngữ pháp, thực hành các kỹ năng nghe - nói - đọc - viết một cách riêng lẻ hay kết hợp những kiến thức và kỹ năng này vào hoạt động giao tiếp trong các tình huống thường gặp trong cuộc sống. Ngoài ra, giảng viên có thể tư vấn cho sinh viên nhiều chương trình học tiếng Anh hay trò chơi trên nền tảng máy tính/ điện thoại thông minh giúp việc tự học trở nên phong phú, đa dạng và thú vị hơn dạng bài tập in trên giấy truyền thống. Việc sinh viên sở hữu thiết bị thông minh phổ biến (trên 80%) cùng với wi-fi phủ sóng toàn bộ khuôn viên Nhà trường chính là điều kiện lý tưởng để hiện thực hoá quá trình tự học tiếng Anh trên nền tảng công nghệ. Tuy nhiên, những hoạt động tự học này cần được tiến hành dưới sự hướng dẫn và quản lý của giảng viên hay cán bộ kỹ thuật của thư viện nhằm đảm bảo hiệu quả và đúng hướng. Sau các giờ tự học, sinh viên cần ghi chép lại vào hồ sơ học tập điện tử (e-portfolio) những thu hoạch của mình, khó khăn gặp phải hay những câu hỏi cần giảng viên giải đáp.
        Hai là, xác định cụ thể thời gian tự học cùng khối lượng kiến thức và bài tập
        Ngoài thời gian tự học bắt buộc tại phòng LAB, mỗi sinh viên cần tự sắp xếp cho bản thân một thời gian biểu tự học chi tiết cùng khối lượng công việc cần hoàn thành, bao gồm bài tập trong sách giáo khoa và sách bài tập, bài tập nhóm giao về nhà hay bài tập tự do. Việc xây dựng thời khoá biểu và bố trí các bài tập - kỹ năng cần được giảng viên phụ trách tư vấn cụ thể, phù hợp với trình độ của mỗi sinh viên nhằm giúp họ trải nghiệm cảm giác thành tựu và duy trì sự hào hứng đối với việc học ngoại ngữ. Sinh viên cũng cần chủ động trao đổi cùng với giảng viên hay bạn học về những khó khăn trong quá trình tự học tại ký túc xá. phòng ở tập thể, thư viện hay phòng tự học ngoài giờ chính khoá cũng là những địa điểm để sinh viên tổ chức những buổi trao đổi, ôn luyện - một mặt củng cố kiến thức và kỹ năng ngôn ngữ, mặt khác thay đổi phương pháp học tập khi họ cảm thấy đơn điệu với việc đăng nhập - làm bài tập - kiểm tra kết quả - đăng xuất khi tự học bằng công nghệ.
        Ba là, thay đổi phương pháp đánh giá quá trình tự học tiếng Anh
        Với việc Nhà trường đang từng bước chuyển dịch sang đào tạo tín chỉ, giảng viên Bộ môn Ngoại ngữ cũng cần phải thay đổi cách đánh giá quá trình học tiếng Anh nói chung và việc tự học của sinh viên theo hướng đánh giá quá trình, thay vì đánh giá kết quả truyền thống. Việc chấm điểm vở tự học của sinh viên cần được thay thế và bổ sung bằng nhiều hình thức đánh giá khác nhau, nhằm đảm bảo đánh giá chính xác và toàn diện hơn. Các hình thức này có thể bao gồm: chấm điểm hồ sơ học tập điện tử, kiểm tra bài tập nhóm lớn, chấm điểm tần suất tương tác nhóm hay phản hồi với giảng viên... Nhằm tạo động cơ tự học rõ ràng cho sinh viên, các lượt đánh giá này cần được phân bổ đều vào đầu, giữa và cuối mỗi học phần cũng như nâng lên 30-40% tổng điểm đánh giá cuối cùng. Tuy nhiên, giảng viên cần ý thức rõ việc kích thích bằng điểm số chỉ có tác dụng nhất thời và không bền vững. Chúng ta cần giải thích cho sinh viên hiểu rõ ích lợi của cách đánh giá mới, khơi dậy sự cạnh tranh học tập lành mạnh giữa họ với nhau và kết thúc bằng việc định hình được trong mỗi sinh viên ý thức “người học độc lập” mạnh mẽ.
        Bốn là, xây dựng lòng tin và sự hứng thú học tiếng Anh cho sinh viên
        Lòng tin chính là hành trang cần thiết cho mỗi sinh viên vững bước trên con đường học tập nói chung và tự học ngoại ngữ nói riêng. Họ cần tin tưởng bản thân có khả năng tự học tiếng Anh thành công thông qua việc kiên trì tự học một cách khoa học và kỷ luật. Trong quá trình đó, giảng viên tích cực tham gia xây dựng sự tự tin cho sinh viên bằng những hoạt động dạy học cụ thể như hướng dẫn chiến lược tự học rõ ràng và giám sát việc tự học ngoài giờ của họ, thường xuyên hỗ trợ cá nhân tại lớp và phản hồi online, khích lệ và động viên bằng cả tinh thần và vật chất. Song song với hoạt động lên lớp, giảng viên cũng có thể khuyến khích sinh viên tham gia các hoạt động nhóm, sinh hoạt định kỳ Câu lạc bộ Ngoại ngữ của nhà trường hay giao lưu với người nước ngoài vào cuối tuần sẽ góp phần biến kiến thức sách vở của sinh viên thành tri thức và kỹ năng sống thực tiễn và hiệu quả. Cùng với việc định hình và mài sắc các kỹ năng cứng, mềm của sinh viên, các hoạt động này sẽ giúp bản thân họ duy trì hứng thú và động cơ học tiếng Anh tích cực.
        
        ---------------------
        Tài liệu tham khảo
  1. Bruner, J. (1986). Actual minds, pos­sible worlds. Cambridge, MA: Harvard Unviersity Press.
  2. Cotterall, S. (1999). Key variables in language learning: What do learners be­lieve about them. System, 27, 493-513.
  3. Esch, K. V. & John, O. St. (2003). A framework for freedom: Learner autono­my in foreign language teacher education. New York, NY: Peter Lang Publishing.
  4. Kinsella, K. (1995). Understanding and empowering diverse learners. In J.M.  Reid (Ed.), Learning styles in the ESL / EFL classroom (p.170-94). Boston, MA: Heinle.
  5. Nunan, D. (1997). Strategy training in the language classroom: An empirical investigation. RELC Journal 28, 56-81.
  6. Sanprasert, N. (2010). The applica­tion of a course management system to enhance autonomy in learning English as a foreign language. System, 38, 109-123.

[1] Bruner, J. (1986). Actual minds, possible worlds. Cambridge, MA:        Harvard Unviersity Press;
Nunan, D. (1997). Strategy training in the language classroom: An empirical investigation. RELC Journal 28, 56-81.
[2] Cotterall, S. (1999). Key variables in language learning: What do learners believe about them. System, 27, 493-513.

Tác giả bài viết: Trần Lê Viết Chung
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số T6/2018
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (28/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (13/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)

Số: Chỉ thị số 14-CT/TW
Tên: (Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng)

Ngày BH: (18/07/2017)

Số: 1884/QyĐ-T48
Tên: (Quy định về văn hóa ứng xử của cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Trường Đại học CSND)

Ngày BH: (12/10/2017)

Số: 27/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân)

Ngày BH: (21/08/2017)

Số: 124/2015/NĐ-CP
Tên: (NGHỊ ĐỊNH SỐ 185/2013/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2013)

Ngày BH: (14/11/2013)