Rss Feed

Nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại Trường Đại học CSND đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới

Đăng lúc: Thứ tư - 28/11/2018 20:12 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
        Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một phương thức đào tạo tiên tiến trong hệ thống giáo dục đại học trên thế giới hiện nay, phương thức đào tạo này đã được áp dụng ngày càng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới. Không nằm ngoài xu thế chung các trường Đại học (trong đó có các trường Công an) tại Việt Nam đã và đang triển khai phương thức đào tạo tiên tiến này trên cơ sở thực hiện phương hướng chỉ đạo của Chính phủ về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020, trong đó đã nêu rõ: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài”[1].
          Trường Đại học CSND, hơn 42 năm phấn đấu xây dựng và trưởng thành, với những chủ trương định hướng đúng đắn, cùng với những chính sách đồng bộ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Nhà trường đã không ngừng lớn mạnh. Trường Đại học CSND đã thực hiện tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước và Bộ Công an giao cho là đào tạo cán bộ có trình độ khoa học về các lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm, các lĩnh vực về khoa học pháp lý cho lực lượng CAND, một số lực lượng thuộc quân đội, khối nội chính và cảnh sát hoàng gia Campuchia. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ủy - Ban Giám hiệu luôn quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngủ giảng viên, cán bộ quản lí giáo dục, tăng cường đổi mới chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy... nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường theo hệ thống tín chỉ.
          Thực hiện Kế hoạch số 207/KH-BCA-X11 của Bộ Công an về việc tổ chức đào tạo đại học, cao đẳng theo hệ thống tín chỉ trong các học viện, trường đại học, cao đẳng Công an nhân dân, Trường Đại học CSND đã triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho 4 khóa đại học chính qui (D24S, D25S, D26S, D27S). Qua đánh giá cho thấy sau 4 năm tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại Trường Đại học CSND đã đạt được một số kết quả cụ thể sau:
          - Về chương trình đào tạo: Hiện nay, bậc đào tạo đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ tại Trường Đại học CSND bao gồm 6 ngành với 11 chuyên ngành đào tạo, tương ứng là 11 chương trình đào tạo đại học CSND hệ chính quy 4 năm theo hệ thống tín chỉ. Nhận thức được tính đặc thù của đào tạo theo hệ thống tín chỉ là hình thức đào tạo giúp sinh viên có nhiều thời gian tự nghiên cứu hơn so với chương trình đào tạo theo niên chế. Thời gian nghiên cứu của người học được quy định theo tỷ lệ cứ một tiết lên lớp, phải có ít nhất hai giờ chuẩn bị học ngoài lớp. Chính vì thế, việc biên soạn đề cương chi tiết môn học đã được Nhà trường triển khai thực hiện nghiêm túc, nhanh chóng, hiệu quả để kịp thời giảng dạy ở các lớp học, khóa học theo quy định.
        - Về xây dựng kế hoạch giảng dạy cho từng học kỳ, từng năm học với từng chuyên ngành đào tạo theo yêu cầu của đào tạo tín chỉ; phân bổ các học phần theo học kỳ, năm học, sắp xếp các học phần theo các khối kiến thức đại cương, cơ sở ngành và chuyên ngành đảm bảo điều kiện tiên quyết và tính logic của các học phần trong chương trình đào tạo. Thời gian dạy học được bố trí từ 02 tiết đến 05 tiết, mỗi tiết giảng dạy 50 phút. Lịch giảng dạy được phân bổ hợp lý giữa giờ lý thuyết, xêmina, thảo luận, thực hành và giờ nghiên cứu tự học của sinh viên.
          Về xây dựng đội ngũ giảng viên: Thực hiện chủ trương của Đảng ủy, Ban Giám hiệu về tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên đáp ứng các tiêu chí về đạo đức nghề nghiệp, nghiệp vụ chuyên môn vững, nghiên cứu khoa học giỏi và có kiến thức thực tiễn, bố trí giảng viên hợp lý phục vụ cho hoạt động giảng dạy2. Để đáp ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ, từ 2010 đến nay, Trường Đại học CSND đã có 221 đồng chí được xét bổ nhiệm chức danh giảng dạy, huấn luyện; trong đó có 38 đồng chí được bổ nhiệm chức danh giảng viên chính, 02 đồng chí được bổ nhiệm chức danh huấn luyện viên cao cấp, 92 đồng chí được bổ nhiệm chức danh giảng viên, 04 đồng chí được bổ nhiệm chức danh huấn luyện viên chính, 79 đồng chí được bổ nhiệm chức danh trợ giảng, 06 đồng chí được bổ nhiệm chức danh huấn luyện viên. Trong những năm qua, các Khoa, Bộ môn đã cử hàng chục lượt giảng viên đi thực tế ngắn hạn tại các đơn vị địa phương, tham gia học tập nâng cao trình độ ở trong và ngoài nước.
          - Về đổi mới phương pháp giảng dạy, đa dạng các loại hình kiểm tra đánh giá, coi trọng khâu tự học, tự nghiên cứu, năng lực thực hành, thực tế của sinh viên: Trong những năm qua, đội ngũ giảng viên Nhà trường đã tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy đáp ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ theo hướng tăng cường áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, hiện đại kết hợp với ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, sử dụng trực quan sinh động, tăng cường kiến thức thực tiễn tạo hứng thú học tập cho sinh viên. Tăng cường các hoạt động sau giảng như: Xêmina, báo cáo thực tế, thảo luận, giao bài tập; tổ chức các buổi báo cáo chuyên đề, xem phim tư liệu; đồng thời tăng cường tổ chức nghiên cứu tình huống; hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu nhằm giúp các em sinh viên hiểu sâu hơn về nội dung bài giảng.
         - Về hoạt động kiểm tra, đánh giá: Nhà trường đã thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, đánh giá theo quy định về đào tạo theo tín chỉ theo hướng chuyển từ chủ yếu kiểm tra, đánh giá kiến thức sang kiểm tra, đánh giá năng lực của người học. Việc kiểm tra, đánh giá các học phần sát thực và toàn diện hơn. Điểm học phần được đánh giá bằng nhiều điểm bộ phận như: Điểm chuyên cần, xêmina, thực hành, làm bài tập, lý thuyết; điểm thi giữa học phần và điểm thi kết thúc học phần... với trọng số khác nhau tùy theo đặc điểm, tính chất của từng học phần trong chương trình. Nhà trường đã đa dạng hóa các hình thức thi, kiểm tra, đánh giá như: thi vấn đáp, thực hành, thi tự luận, bài tập lớn, viết tiểu luận luận... Tổ chức nghiêm túc việc học lại, thi lại, thi cải thiện điểm... theo quy định về đào tạo theo tín chỉ. Hiện nay, Nhà trường đã hoàn thành việc xây dựng được ngân hàng đề thi kết thúc học phần để phục vụ công tác tổ chức thi kiểm tra, đánh giá được khách quan, chính xác, khắc phục tình trạng sinh viên học tủ, học lệch.
          - Về kết quả học tập rèn luyện đào tạo các khóa theo Chương trình đào tạo theo tín chỉ cho thấy nhìn chung, kết quả học tập của các khóa đào tạo theo hệ thống tín chỉ đạt cao hơn, tỉ lệ khá, giỏi nhiều hơn so với đào tạo niên chế[2]. Tuy nhiên, để đánh giá chất lượng đào tạo theo hệ thống tín chỉ so với đào tạo niên chế chỉ dựa trên kết quả học tập để đánh giá chất lượng mà cần phải đánh giá theo tổng thể các biện pháp đối với khóa đào tạo.
          Về đầu tư cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất của Nhà trường về cơ bản đáp ứng nhu cầu đào tạo theo chỉ tiêu Bộ giao, cụ thể với 60 phòng học các loại từ 30 đến 200 chỗ ngồi với đầy đủ máy chiếu, hệ thống âm thanh, 09 phòng học chuyên dùng, 02 phòng học đa chức năng, 02 nhà tập võ thuật, 02 hội trường sinh hoạt tập thể, 02 Thư viện, phủ sóng Wifi toàn bộ Cơ sở 1 và Cơ sở 2 nhằm phục vụ công tác khai thác, sử dụng thông tin trong hoạt động giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học, đã lắp đặt và đưa vào sử dụng mạng LAN trong hoạt động của từng đơn vị... Bên cạnh đó, Nhà trường đang tập trung xây dựng 01 trường bắn điện tử, các công trình phục vụ công tác tập luyện điều lệnh, đội ngũ, võ thuật và rèn luyện thể dục, thể thao.
          Bên cạnh những kết quả đã đạt như trên, quá trình tổ chức đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ tại Trường Đại học CSND còn một số tồn tại, hạn chế, cụ thể như sau:
          - Về tổ chức đào tạo: Tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Trường Đại học CSND thời gian qua chưa thực hiện đầy đủ, triệt để các nội dung như trong Quy chế về đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Bộ giáo dục và Đào tạo, còn một số nội dung chưa được triển khai như: Chưa tổ chức cho sinh viên được lựa chọn giảng viên, chưa tổ chức lớp học theo học phần mà vẫn tổ chức lớp theo trung đội, chưa tổ chức cho sinh viên học vượt, học cùng lúc hai chương trình; việc kiểm tra đánh giá quá nhiều đầu điểm, gây áp lực cho cán bộ quản lý, đồng thời với những lớp có số lượng từ trên 50 sinh viên trở lên, giảng viên không thể đánh giá chính xác kết quả chuyên cần, ý thức thái độ học tập và không áp dụng được nhiều hình thức kiểm tra, đánh giá đối với sinh viên.
          Về chương trình đào tạo, đề cương chi tiết học phần: Việc phân bổ khối kiến thức trong chương trình đào tạo chưa phù hợp, tổng số tín chỉ và học phần quá nhiều. chương trình đào tạo thời gian 5 năm trung bình 211 đơn vị học trình, chương trình đào tạo thời gian 4 năm là 148 tín chỉ; nhiều học phần và nặng về lý thuyết; chương trình đào tạo còn ít các học phần cho sinh viên đăng ký tự chọn; việc xây dựng các học phần lựa chọn ở tất cả các khối kiến thức với số lượng 15 tín chỉ và đảm bảo tỉ lệ chọn 1 trong 3 học phần như quy định trong dự thảo khung chương trình của Bộ Công an là rất khó khăn đối với các chương trình của từng ngành, chuyên ngành thuộc lĩnh vực khoa học cảnh sát, bởi vì nội dung kiến thức cơ sở ngành, kiến thức ngành, chuyên ngành chủ yếu là kiến thức bắt buộc, rất khó xác định nội dung nào là tự chọn. Hơn nữa, do đặc thù của khoa học Cảnh sát, để xây dựng 1 học phần lựa chọn cần phải có thời gian nghiên cứu, tổng kết thành lý luận, xây dựng giáo trình, tài liệu dạy học. Cho nên, số học phần lựa chọn trong các chương trình của Nhà trường chưa nhiều.
          - Về đội ngũ giảng viên: Tỷ lệ giảng viên trẻ ở các khoa, bộ môn nhiều trong khi giảng viên có thâm niên, kinh nghiệm giảng dạy và số giảng viên có thể đảm nhận giảng dạy nhiều học phần còn ít, hạn chế về số lượng... gây khó khăn cho việc tổ chức dạy học theo hệ thống tín chỉ, đặc biệt là việc tổ chức chọn giảng viên và tổ chức lớp theo học phần. Giảng viên các đơn vị giảng dạy còn chậm đổi mới về xây dựng, thiết kế bài giảng, chưa phát huy tính tích cực, sáng tạo và chủ động trong học tập của sinh viên. Nhận thức của đội ngũ giảng viên về hoạt động đào tạo theo hệ thống tín chỉ cũng chưa đầy đủ, thậm chí còn có sự khác nhau dẫn đến áp dụng các phương pháp giảng dạy và vận dụng quy luật dạy học chưa thực sự hiệu quả, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.
          - Về cơ sở vật chất, điều kiện đảm bảo: Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo theo hệ thống tín chỉ còn chưa đồng bộ với quy mô đào tạo của Nhà trường, chưa phù hợp với quy mô và cách thức tổ chức lớp học theo tín chỉ. Số lượng phòng học, phòng chuyên dùng đảm bảo những yêu cầu cơ bản của việc nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập, nhưng số lượng sinh viên đông, số lượng phòng học còn thiếu so với quy mô đào tạo đã ảnh hưởng đến chất lượng dạy học. Trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện dạy học còn thiếu, chưa đồng bộ, hiện đại. Hệ thống tài liệu, giáo trình tại Trung tâm thư viện và lưu trữ chưa phong phú, đa dạng về số lượng và nội dung để phục vụ học viên nghiên cứu, khai thác, nhất là giáo trình, tài liệu tham khảo về nghiệp vụ.
          Để nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo theo hệ thống tín chỉ đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới Trường Đại học CSND cần tập trung thực hiện các nội dung sau:
          Thứ nhất, Nhà trường cần tiếp tục duy trì và triển khai phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ đối với các hệ đào tạo đại học tại Đại học CSND. Qua thời gian triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học CSND cho thấy đây là phương thức đào tạo tiên tiến và có nhiều ưu thế so với đào tạo theo niên chế, phù hợp với xu thế chung của giáo dục đại học nước ta và thế giới.
          Thứ hai, Nhà trường tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo trong việc xây dựng chương trình đào tạo và nội dung đào tạo. Cải tiến nội dung chương trình giảng dạy, phương pháp dạy học theo hướng cơ bản, thiết thực và hiện đại. Coi trọng giáo dục đạo đức nghề nghiệp, công tác huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp, kiến thức nghiệp vụ. Đổi mới phương pháp đào tạo theo phương thức trang bị cách học, phát huy tính chủ động của người học, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học. Kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn trong công tác lý luận và xây dựng hệ thống lý luận nghiệp vụ Công an nhân dân.
          Thứ ba, từng bước xây dựng, hoàn thiện đội ngũ cán bộ giảng viên, cán bộ cố vấn học tập đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn công tác giáo dục đào tạo hiện nay. Trước hết để đào tạo theo hệ thống tín chỉ đạt hiệu quả cao cần xây dựng đội ngũ giảng viên trình độ cao. Muốn được như vậy, đối với giảng viên các đơn vị, ngoài việc đi thực tế như hiện nay, Nhà trường cần báo cáo Bộ Công an tăng cường luân chuyển các đồng chí là lãnh đạo các khoa chuyên ngành về các đơn vị nghiệp vụ của Cục hoặc các địa phương để tăng cường kiến thức thực tiễn. Bên cạnh việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, cần đặc biệt chú ý đào tạo nâng cao ý thức nghề nghiệp, lòng yêu nghề đối với các đồng chí giảng viên trẻ, tập huấn về phương pháp giảng dạy tích cực. Bên cạnh đó cần phát huy vai trò của Cố vấn học tập trong việc giúp đỡ sinh viên học tập theo hệ thống tín chỉ. Cố vấn học tập được xem là một mắt xích trong sợi dây chuyền đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Cố vấn học tập cần giúp đỡ, định hướng cho sinh viên trong quá trình học tập các môn chuyên ngành để các em có được hướng học tập đúng đắn.
          Thứ tư, tăng cường đầu tư kinh phí, trang thiết bị dạy học, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ công tác đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Tập trung hoàn thiện hệ thống tài liệu, giáo trình, sách giáo khoa đảm bảo vừa có nội dung lý luận cơ bản, vừa bao quát phản ảnh được những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh đáp ứng đòi hỏi nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo theo hệ thống tín chỉ.
          Bố trí phòng học chuyên dùng ổn định cho giảng dạy sinh viên chuyên ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên sử dụng phương tiện kỹ thuật vào dạy học. Xây dựng và đưa vào sử dụng phần mềm tổng thể để quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ, về sắp xếp lịch giảng, quản lý hội trường, quản lý đăng ký học theo hệ thống tín chỉ, quản lý điểm học tập của sinh viên.
          Thứ năm, bồi dưỡng phương pháp tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên theo hướng phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự học của người học, gắn lý luận với thực tiễn, nâng cao kỹ năng thực hành, khả năng độc lập tác chiến cho sinh viên phù hợp với yêu cầu thực tiễn đòi hỏi - đào tạo phải theo nhu cầu của xã hội.
 

[1] Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020.
[2] Đào tạo theo tín chỉ khóa D24S tốt nghiệp 2018: Sinh viên đạt loại: xuất sắc 0%; loại giỏi 2,38%; loại khá 92,5%; loại trung bình 5,36%; loại trung bình yếu 0%; loại kém 0%. Đào tạo theo niên chế (Khóa D23S tốt nghiệp năm 2017: gồm 721 sinh viên, kết quả học tập đạt: 0% loại xuất sắc; 0,13% loại giỏi; 63,36% loại khá; 34,97% loại trung bình khá; 1,54% loại trung bình).

Tác giả bài viết: Lê Trung Kiên – Trường Đại học CSND
Nguồn tin: * Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 109 tháng 11/2018
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 491/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt điều chỉnh chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất răn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050)

Ngày BH: (06/05/2018)

Số: 1250/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030)

Ngày BH: (30/07/2013)

Số: 582/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định về việc phê duyệt đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi ni lông khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020)

Ngày BH: (10/04/2013)

Số: 25/CT-TTg
Tên: (CHỈ THỊ VỀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CẤP BÁCH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG)

Ngày BH: (30/08/2016)

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (28/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (13/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)