Rss Feed

Một số nội dung đáng chú ý trong Luật trẻ em năm 2016

Đăng lúc: Thứ hai - 10/06/2019 03:13 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” luôn là câu châm ngôn trong việc khẳng định mạnh mẽ sự cần thiết và quan trọng của việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em – những chủ nhân tương lai của nhân loại. Ở Việt Nam, quyền trẻ em đã và đang được toàn xã hội hết sức quan tâm. Đặc biệt là trong tình hình hiện nay, khi xảy ra không ít những vụ việc xâm hại đến trẻ em gây nên nỗi bất an và lo lắng cho gia đình, nhà trường và xã hội.
         Còn nhớ vụ việc cựu phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng bị truy tố về hành vi dâm ô trẻ em đã khiến dư luận xã hội phẫn nộ thời gian gần đây như giọt nước tràn ly sau hàng loạt những thông tin về các hành vi như hành hạ trẻ em tại các cơ sở mẫu giáo, mầm non, bóc lột sức lao động trẻ em hoặc thậm chí là mua bán trẻ em...  bị phát hiện. Có thể nói, những đứa trẻ ấy đã chịu tổn thương rất lớn về cả thể chất lẫn tinh thần mà không gì có thể bù đắp được. Hình ảnh các em với đôi mắt hoang mang, sợ hãi cùng những vết tích trên cơ thể có thể làm bất cứ ai trong chúng ta cảm thấy vô cùng đau xót.
        Chính vì vậy, Luật trẻ em năm 2016 có hiệu lực kể từ ngày 01/06/2017 được ban hành thay thế Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 với nhiều nội dung mới, đề cao tầm quan trọng của việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em là một trong những văn bản pháp lý quan trọng giúp các cơ quan, ban ngành, các tổ chức cũng như toàn xã hội chung tay vào việc bảo vệ trẻ em.  Trong phạm vi bài viết này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một số nội dung đáng chú ý được quy định trong Luật trẻ em năm 2016 để nắm bắt rõ hơn các quy định của pháp luật đối với vấn đề bảo vệ trẻ em hiện nay:
        Thứ nhất, quy định rõ độ tuổi và mở rộng chủ thể được coi là trẻ em
        Luật Trẻ em năm 2016 quy định rõ: Trẻ em là người dưới 16 tuổi. Như vậy, khác với quy định tại Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004. Khái niệm trẻ em hiện nay không còn giới hạn trong phạm vi là công dân Việt Nam mà bao gồm cả trẻ em là người nước ngoài, người không quốc tịch cư trú tại Việt Nam.
        Ngoài ra, Luật Trẻ em 2016 còn bổ sung thêm các quy định về nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như: Trẻ em bị bóc lột, trẻ em bị mua bán, trẻ em di cư, lánh nạn…

 
(Luật trẻ em năm 2016 – Nguồn: Internet)

        Thứ hai, quy định cụ thể các quyền cơ bản của trẻ em
        Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách lành mạnh và an toàn. Quyền trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ em không chỉ là người tiếp nhận thụ động lòng nhân từ của người lớn, mà các em là những thành viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển.
        Việt Nam là một trong những quốc gia sớm quan tâm đến việc bảo vệ quyền trẻ em, là nước đầu tiên của Châu Á và là nước thứ hai thế giới phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em. Theo quy định tại Mục 1, Chương 2, Luật Trẻ em, trẻ em có 25 quyền, trong đó có một số quyền cơ bản như:
        - Quyền sống: Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển;
        - Quyền được chăm sóc sức khỏe: Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh.
        - Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu: Trẻ em có quyền và bình đẳng về cơ hội được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân.
        - Quyền bí mật đời sống riêng tư: Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
        - Quyền được sống chung với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em…
        Bên cạnh đó, Luật Trẻ em 2016 còn bổ sung thêm một số quyền của trẻ em như: Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động, quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc, quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt, quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy…
        Hiểu và nắm bắt được nội dung Quyền trẻ em sẽ giúp xã hội chăm lo tốt hơn cho thế hệ tương lai và giúp các em được hưởng đầy đủ các quyền lợi của mình.
        Thứ ba, quy định về các cấp độ bảo vệ trẻ em
        Luật Trẻ em 2016 quy định trẻ em được bảo vệ theo 03 cấp độ, cụ thể:
        - Cấp độ phòng ngừa: Gồm các biện pháp áp dụng với cộng đồng, gia đình và mọi trẻ em nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức về bảo vệ trẻ em, xây dựng môi trường an toàn, giảm nguy cơ trẻ em bị xâm hại. (Điều 48).
        Đây là cấp độ đầu tiên, cụ thể trong cấp độ này tập trung vào việc tuyên truyền, phòng ngừa, phát hiện sớm nguy cơ trẻ em bị xâm hại. Để thực hiện vấn đề này quan trọng là phải có một hệ thống chăm sóc và bảo vệ trẻ em hoàn thiện. Điều đã có ở một số nước nhưng ở Việt Nam vẫn chưa được xây dựng hoàn thiện. Theo đó, nếu trẻ em có nguy cơ thì người làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ phải phát hiện, phòng ngừa và cảnh báo sớm. Đội ngũ cộng tác viên và cán bộ này sống trong những môi trường ấy, biết được, theo dõi, quản lý, lường trước và có những biện pháp can thiệp sớm để bảo vệ trẻ em, đặc biệt là ở trong những gia đình có các nguy cơ như: Thường xuyên đánh cãi nhau, bố nghiện rượu, cờ bạc hoặc gia đình chuẩn bị ly hôn, gia đình rất nghèo… Để làm được điều này phải kiện toàn và xây dựng hệ thống cộng tác viên bảo vệ trẻ em hoàn chỉnh.
        - Cấp độ hỗ trợ: Gồm các biện pháp áp dụng với trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi hoặc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm kịp thời phát hiện, giảm, loại bỏ nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em. (Điều 49).
        Ở cấp độ thứ hai, nếu xảy ra vấn đề trẻ em bị đánh đập, bị bạo hành, hiếp dâm… phải có quy trình báo cáo cơ quan chức năng có thẩm quyền, nhờ can thiệp, hỗ trợ kịp thời.
        - Cấp độ can thiệp: Gồm các biện pháp áp dụng đối với trẻ em và gia đình trẻ em bị xâm hại nhằm ngăn chặn hành vi xâm hại; chăm sóc phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. (Điều 50).
        Cấp độ cuối cùng, sau khi giải quyết những vấn đề thuộc cấp độ một và hai thì phải có cơ chế, hỗ trợ cho trẻ em. Nếu trẻ đi lang thang thì đưa về địa phương và tiếp tục các giải pháp hỗ trợ khác; nếu trẻ bị bạo hành, đánh đập thì ngăn chặn đồng thời có các giải pháp tâm lý phù hợp nhằm hỗ trợ cho các em. Nói chung, phải có các dịch vụ can thiệp và các quy trình tiếp theo để xử phạt đối tượng xâm hại, bạo hành, thậm chí là truy tố những đối tượng đó.
        Ngoài ra, Luật còn quy định các yêu cầu bảo vệ trẻ em như: Việc bảo vệ phải bảo đảm tính hệ thống, liên tục, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành; trẻ em được ưu tiên bảo vệ tại gia đình, việc đưa vào cơ sở trợ giúp xã hội chỉ là biện pháp tạm thời.
        Thứ tư, quy định về quyền riêng tư của trẻ em
        Theo quy định tại Điều 21 Luật Trẻ em 2016: Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư. 
        Khoản 2 Điều 54 Luật này quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, cung cấp sản phẩm, dịch vụ thông tin, truyền thông và tổ chức các hoạt động trên môi trường mạng phải thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn và bí mật đời sống riêng tư cho trẻ em theo quy định của pháp luật”.
        Theo Điều 6 Luật Trẻ em năm 2016, hành vi công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 7 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em là hành vi bị nghiêm cấm. Ngoài ra, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên môi trường mạng và cá nhân khi đưa thông tin bí mật đời sống riêng tư của trẻ em lên mạng còn phải bảo đảm an toàn thông tin của trẻ em (Điều 36 Nghị định 56/2017/NĐ-CP).
        Với các quy định trên, các bậc cha, mẹ, người thân thích của trẻ em cần phải lưu ý và thận trọng trong việc đăng tải hình ảnh, kết quả học tập,… của trẻ trên các trang mạng xã hội (chẳng hạn như Facebook, Zalo, Instagram...) để tránh vi phạm các quy định của pháp luật.
        Thứ năm, quy định về tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em
        Theo quy định tại Mục 1, 2 Chương II Nghị định 56/2017/NĐ-CP, Bộ Lao động – Thương binh xã chịu trách nhiệm quản lý Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em. Theo đó, Tổng đài bảo vệ trẻ em là 111, hoạt động 24 giờ tất cả các ngày trong tuần.
        Tổng đài có 08 nhiệm vụ chính, cụ thể:
        1. Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em qua điện thoại do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý.
        2. Tiếp nhận thông báo, tố giác từ cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân qua điện thoại.
        3. Liên hệ với các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan hoặc có thẩm quyền; khai thác thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng, môi trường mạng về nguy cơ, hành vi xâm hại trẻ em để kiểm tra thông tin, thông báo, tố giác ban đầu.
        4. Chuyển, cung cấp thông tin, thông báo, tố giác hoặc giới thiệu trẻ em có nguy cơ hoặc bị xâm hại, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em tới các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, chức năng bảo vệ trẻ em.
        5. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cá nhân có thẩm quyền, chức năng bảo vệ trẻ em trong phạm vi toàn quốc để đáp ứng việc tiếp nhận, trao đổi, xác minh thông tin, thông báo, tố giác về trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi.
        6. Hỗ trợ người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã trong việc xây dựng, thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp đối với từng trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi; theo dõi, đánh giá việc xây dựng và thực hiện kế hoạch này.
        7. Tư vấn tâm lý, pháp luật, chính sách cho trẻ em, cha, mẹ, thành viên gia đình, người chăm sóc trẻ em.
        8. Lưu trữ, phân tích, tổng hợp thông tin để cung cấp, thông tin, thông báo, tố giác khi có yêu cầu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, đối với vụ việc xâm hại trẻ em và các cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; thực hiện báo cáo định kỳ, đột xuất cho cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em và các cơ quan khác có thẩm quyền, trách nhiệm về bảo vệ trẻ em.
        Ngoài ra, Nghị định 56/2017/NĐ-CP cũng quy định mọi thông tin thông báo, tố giác về các trường hợp xâm hại trẻ em đều được bảo mật trước khi được xác minh. Các cuộc điện thoại gọi đến Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em được miễn phí phí viễn thông và phí tư vấn.
        Thứ sáu, quy định về hành vi ngược đãi trẻ em
        Điều 6 Luật Trẻ em 2016 nghiêm cấm các hành vi sau: Bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán bắt cóc, chiếm đoạt trẻ em; xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em… Theo quy định tại Khoản 2 Điều 185 Bộ luật Hình sự 2015 thì: Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể con, cháu là người dưới 16 tuổi thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
        Ngoài ra, theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, người cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của trẻ em tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

 
(Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai – Nguồn: Internet)

        Thứ bảy, hình phạt tử hình đối với hành vi hiếp dâm trẻ em dưới 10 tuổi
        Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục (Điều 25 Luật Trẻ em 2016). Theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 thì người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác đối với người dưới 10 tuổi thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
        Thứ tám, phạt tù đến 15 năm cho hành vi bán ma túy cho trẻ em
        Điều 6 Luật Trẻ em 2016 quy định, nghiêm cấm các hành vi bán cho trẻ em hoặc cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em…
        Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 cũng quy định: Người nào bán ma túy cho người dưới 16 tuổi thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
        Trên đây là một số quy định của Luật trẻ em năm 2016 cần chú ý nhằm góp phần giúp mỗi chúng ta chung tay xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em phát triển một cách toàn diện bằng chính tình yêu thương và trách nhiệm của mình./.
Tác giả bài viết: Vũ Thị Hồng Phương
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 01/QĐ-BCĐTW
Tên: (QUYẾT ĐỊNH VỀ VIỆC BAN HÀNH PHƯƠNG ÁN TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở NĂM 2019)

Ngày BH: (14/08/2018)

Số: 772/QĐ-TTg
Tên: (QUYẾT ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở NĂM 2019)

Ngày BH: (25/06/2018)

Số: 491/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt điều chỉnh chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất răn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050)

Ngày BH: (06/05/2018)

Số: 1250/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030)

Ngày BH: (30/07/2013)

Số: 582/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định về việc phê duyệt đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi ni lông khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020)

Ngày BH: (10/04/2013)

Số: 25/CT-TTg
Tên: (CHỈ THỊ VỀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CẤP BÁCH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG)

Ngày BH: (30/08/2016)

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (28/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (13/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)