Rss Feed
Chào mừng Khai giảng năm học 2020-2021 Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 – Những điểm mới và định hướng trong công tác giảng dạy, nghiên cứu

Đăng lúc: Thứ tư - 15/04/2015 00:08 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
1. Sự cần thiết ban hành luật bảo vệ môi trường năm 2014
Luật bảo vệ môi trường năm 2005 đã được quốc hội khóa xi thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 29 tháng 11 năm 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006. Sau gần 10 năm thi hành luật bảo vệ môi trường năm 2005 đã đạt được kết quả như: hệ thống chính sách, pháp luật và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã được hình thành tương đối đồng bộ và ngày càng hoàn thiện; công tác phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm được thúc đẩy đã góp phần kiềm chế, làm chậm lại tốc độ gia tăng ô nhiễm môi trường. Công tác bảo vệ, bảo tồn đã kiềm chế mức độ suy giảm đa dạng sinh học; công tác điều tra, quan trắc, đánh giá chất lượng môi trường và đa dạng sinh học đã được đầu tư thực hiện.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được như trên còn có những tồn tại, bất cập: một số quy định trong pháp luật về bảo vệ môi trường chưa sát thực tế, thiếu cụ thể dẫn đến chậm đi vào cuộc sống, không theo kịp yêu cầu phát triển của thực tiễn và hội nhập quốc tế; cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường chậm đổi mới, chưa đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường; phân công, phân cấp thẩm quyền trong quản lý môi trường còn phân tán, chồng chéo và chưa hợp lý. Cụ thể như: trong luật bảo vệ môi trường 2005 có những quy định về trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong công tác bảo vệ môi trường đối với làng nghề không có tính khả thi và không đúng chức năng (cải tạo, nâng cấp các hệ thống xử lý chất thải, tuyên truyền, phổ biến...) Và vì vậy không thể triển khai được. Trong khi đó, lại không quy định rõ trách nhiệm của các hộ gia đình, cơ sở sản xuất trong làng nghề. Công tác bảo vệ môi trường trong nhập khấu phế liệu có những quy định kỹ thuật về phế liệu không có khả năng thực thi (phế liệu đã được phân loại, làm sạch,...); quy định không rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân được nhập khẩu phế liệu; chưa có quy định về tiêu chí phế liệu cho phù hợp với từng loại phế liệu[1].  
Từ những vấn đề nêu trên, cần thiết xây dựng và ban hành luật bảo vệ môi trường năm 2014 nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập trong luật bảo vệ môi trường năm 2005. Bên cạnh đó, nhiều vấn đề mới nảy sinh như tác động của biến đổi khí hậu, an ninh môi trường, an ninh sinh thái đòi hỏi pháp luật về bảo vệ môi trường phải được cập nhật, bổ sung với các giải pháp đồng bộ, đủ mạnh, có tính đột phá; một số quan điểm, chủ trương, chính sách mới, quan trọng của đảng đối với công tác bảo vệ môi trường mới được ban hành, thể hiện tại nghị quyết đại hội đảng toàn quốc lần thứ xi, đặc biệt là nghị quyết số 24-nq/tw ngày 03 tháng 6 năm 2013 hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành trung ương khóa xi về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đòi hỏi pháp luật bảo vệ môi trường phải sớm được cập nhật, sửa đổi, bổ sung. Đây chính là những tiền đề cần thiết cho việc xây dựng và ban hành luật bảo vệ môi trường năm 2014.
2. Những điểm mới so với luật bảo vệ môi trường năm 2005
Một là, về hình thức, bố cục của luật bảo vệ môi trường năm 2014
Ngày 23 tháng 6 năm 2014, tại kỳ họp thứ 7 quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam khóa xiii, đã thông qua luật bảo vệ môi trường số 55/2014/qh13. Ngày 01 tháng 01 năm 2015, luật bảo vệ môi năm 2014 có hiệu lực thi hành và thay thế luật bảo vệ môi trường năm 2005.
Luật bảo vệ môi trường năm 2014 bao gồm 20 chương và 170 điều, tăng thêm 05 chương và 34 điều so với luật bảo vệ môi trường năm 2005. Giữa các chương của luật bảo vệ môi trường năm 2014 có sự kế thừa, thay đổi thứ tự và bổ sung mới về cấu trúc.
- các chương có sự kế thừa, thay đổi thứ tự và giữ nguyên tên chương:
+ chương i. Những quy định chung;
+ chương vii. Bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ;
+ chương viii. Bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư;
+ chương ix. Quản lý chất thải;
+ chương xvii. Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường;
+ chương xx. Điều khoản thi hành
- các chương có sự điều chỉnh, tách, nhập, bổ sung về nội dung và cấu trúc:
+ chương ii. Quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
+ chương iii. Bảo vệ môi trường trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên;
+ chương x. Xử lý ô nhiễm, phục hồi và cải thiện môi trường;
+ chương xi. Quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường;
+ chương xii. Quan trắc môi trường;
+ chương xiii. Thông tin môi trường, chỉ thị môi trường, thống kê môi trường và báo cáo môi trường;
+ chương xiv. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
+ chương xv. Trách nhiệm của mặt trận tổ quốc việt nam, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường;
+ chương xvi. Nguồn lực về bảo vệ môi trường;
+ chương xviii. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về môi trường;
+ chương xix. Bồi thường thiệt hại về môi trường.
- các chương bổ sung mới và có nhiều điểm mới về nội dung và cấu trúc:
+ chương iv. Ứng phó với biến đổi khí hậu;
+ chương v. Bảo vệ môi trường biển và hải đảo;
+ chương vi. Bảo vệ môi trường nước, đất và không khí.
Việc phân định, nhận diện về hình thức, bố cục ở trên cũng mang tính chất tương đối, bởi vì giữa nội dung và bố cục có sự giao thoa, bổ sung cho nhau như: khi giữ nguyên tên chương nhưng có sự bổ sung, điều chỉnh, tách, nhập về nội dung, cấu trúc; hoặc các chương bổ sung mới nhưng vẫn có sự kế thừa về mặt nội dung, quan điểm và phương pháp xây dựng.
Hai là, về nội dung của luật bảo vệ môi trường năm 2014
Luật bảo vệ môi trường năm 2014 được xây dựng trên cơ sở tổng kết việc thực thi luật bảo vệ môi trường 2005, học hỏi kinh nghiệm các nước trên thế giới, nghiên cứu phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của việt nam hiện nay và “các quy định của luật phải rõ ràng, cụ thể và có tính thực thi”[2]; bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ giữa quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường với các hệ thống pháp luật khác có liên quan, giữ vững nguyên tắc pháp chế và tính nghiêm minh của pháp luật.
Với quan điểm như trên, trong hầu khắp các chương của luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã có sự kế thừa, chỉnh sửa, bổ sung và thay thế về mặt nội dung. Trong đó, có những điểm mới nổi bật sau:
- thứ nhất, về những quy định chung
+ về đối tượng áp dụng
Luật bảo vệ môi trường năm 2014 áp dụng đối với “cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trên lãnh thổ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam”. Trong quy định về đối tượng áp dụng, luật này không đề cập đến các yếu tố “trong nước”, “nước ngoài”, “điều ước quốc tế” như quy định của luật bảo vệ môi trường năm 2005. Đồng thời, luật này cũng đã chỉ ra phạm vi không gian của lãnh thổ, bao gồm “đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. Đây là điểm mới của luật bảo vệ môi trường năm 2014 trong việc xác định đối tượng áp dụng. Việc xác định này vừa mang tính khái quát, cụ thể; vừa ngắn gọn, súc tích và không bỏ sót đối tượng áp dụng.
+ về sự thay đổi và bổ sung các thuật ngữ
Luật bảo vệ môi trường năm 2014 có sự thay đổi về nội dung của thuật ngữ môi trường[3], với quan điểm coi con người là một thành phần của môi trường và tác động qua lại với các thành phần khác của môi trường nhằm quy định rõ trách nhiệm ứng xử với môi trường của con người.
So với luật bảo vệ môi trường năm 2005, luật này không ghi nhận và giải thích thuật ngữ “hệ sinh thái” và “đa dạng sinh học” do hai thuật ngữ này đã được quy định cụ thể tại luật đa dạng sinh học năm 2008. Thuật ngữ “quy chuẩn kỹ thuật môi trường”, “sức khỏe môi trường”, “công nghiệp môi trường”, “quy hoạch bảo vệ môi trường”, “thích ứng với biến đổi khí hậu”, “thông tin môi trường”, “an ninh môi trường” là những thuật ngữ mới được đưa vào nhằm giải thích cho các nội dung được điều chỉnh trong luật bảo vệ môi trường năm 2014.
+ về những hành vi bị nghiêm cấm
Quy định thêm những hành vi bị nghiêm cấm như: hành vi vận chuyển chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác không đúng quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường; thải chất thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào không khí; đưa vào nguồn nước hóa chất độc hại, chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và tác nhân độc hại khác đối với con người và sinh vật; phá hoại, xâm chiếm trái phép di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vượt quá quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm của người có thẩm quyền để làm trái quy định về quản lý môi trường. Đây là những hành vi đã được quy định trong các văn bản dưới luật, do đó cần phải luật hóa, quy định trong luật bảo vệ môi trường năm 2014.
- thứ hai, ứng phó với biến đổi khí hậu
Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã giải thích thuật ngữ ứng phó với biến đổi khí hậu là “các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu”. Như vậy, toàn bộ các hoạt động của cá nhân, tổ chức “thích ứng” và “giảm thiểu” với biến đổi khí hậu, chính là ứng phó với biến đổi khí hậu. Với nhận diện như trên, nội dung của chương này tập trung vào các quy định trách nhiệm và hoạt động của tổ chức, cá nhân trong ứng phó với biến đổi khí hậu như: lồng ghép nội dung thích ứng với biến đổi khí hậu vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quản lý phát thải khí nhà kính; các chất làm suy giảm tầng ô-dôn; phát triển năng lượng tái tạo; sản xuất và tiêu thụ thân thiện với môi trường; thu hồi năng lượng từ chất thải; quyền và trách nhiệm của cộng đồng trong ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ ứng phó với biến đổi khí hậu; hợp tác quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu. Đây là những nội dung mới gắn với hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu trên các hoạt động phát triển kinh tế- xã hội; quyền và trách nhiệm các chủ thể, của cộng đồng trong ứng phó với biến đổi khí hậu trong phạm vi quốc gia và hợp tác quốc tế. Bên cạnh đó, luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã dành một chương (chương iv- trong tổng số 20 chương) với 10 điều quy định về ứng phó với biến đổi khí hậu. Đây cũng là một minh chứng xác định vị trí, tầm quan trọng của hoạt động này trên phạm vi quốc gia và quốc tế.  
- thứ ba, bảo vệ môi trường biển và hải đảo
Được quy định tại chương v của luật bảo vệ môi trường năm 2014. Chương này đã bổ sung thêm nội dung về bảo vệ môi trường hải đảo; các nội dung của điều luật có sự tích hợp giữa bảo vệ môi trường biển và bảo vệ môi trường hải đảo như: quy định chung về bảo vệ môi trường biển và hải đảo; kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường trên biển và hải đảo. Các quy định này so với luật bảo vệ môi trường năm 2005 được viết gọn hơn, bảo đảm tính hệ thống và toàn diện. Đây là nội dung thể hiện sự cụ thể hóa đối tượng áp dụng của luật bảo vệ môi trường năm 2014, khi không gian của lãnh thổ, được xác định là “đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”.
- thứ tư, về bảo vệ môi trường nước, đất và không khí
+ bảo vệ môi trường nước sông: luật này đã bổ sung quy định về việc định kỳ quan trắc, đánh giá chất lượng nước và trầm tích của các lưu vực sông; vấn đề bảo vệ môi trường các lưu vực sông xuyên biên giới; việc xây dựng các cơ sở phát sinh chất thải vào các lưu vực sông phải xem xét tới khả năng chịu tải của các lưu vực sông. Luật bảo vệ môi trường 2014 đã bổ sung quy định về trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với bảo vệ môi trường lưu vực sông nội tỉnh; trách nhiệm của bộ tài nguyên và môi trường trong ban hành, hướng dẫn các quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường nước, trầm tích các lưu vực sông; trong quan trắc, đánh giá môi trường các lưu vực sông liên tỉnh.
+ bảo vệ môi trường đất: luật bảo vệ môi trường 2014 đã bổ sung quy định chung về bảo vệ môi trường đất; quản lý chất lượng môi trường đất và kiểm soát ô nhiễm môi trường đất. Theo đó, bảo vệ môi trường đất là bảo vệ tài nguyên đất; mọi tổ chức, cá nhân sử dụng đất phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường đất; người gây ô nhiễm đất phải có trách nhiệm xử lý và phục hồi môi trường đất. Những quy định này sẽ ràng buộc trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân đối với bảo vệ môi trường đất, tạo nền tảng pháp lý để mở rộng các quy định cụ thể về bảo vệ môi trường đất.
+ bảo vệ môi trường không khí: luật bảo vệ môi trường 2014 quy định mọi nguồn thải khí phải được kiểm soát và trách nhiệm giảm thiểu, xử lý khí thải của các tổ chức, cá nhân có hoạt động phát thải khí. Đây là nội dung được tách riêng, bổ sung cụ thể và nhấn mạnh hơn về bảo vệ môi trường không khí nhằm làm rõ các quy định pháp luật đối với thành phần môi trường này.
- thứ năm, về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
So với luật bảo vệ môi trường năm 2005, chương này của luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã lồng ghép trách nhiệm bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân vào từng lĩnh vực cụ thể trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Tách riêng thành điều luật quy định bảo vệ môi trường khu kinh tế và bổ sung mới bảo vệ môi trường trong lễ hội và đối với cơ sở nghiên cứu, phòng thử nghiệm. Trong đó, bảo vệ môi trường đối với làng nghề và bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu, tuy điều luật vẫn giữ nguyên tên, nhưng nội dung có sự thay đổi. Cụ thể: luật bảo vệ môi trường 2014 đã quy định làng nghề và cơ sở sản xuất tại làng nghề phải đáp ứng điều kiện và yêu cầu về bảo vệ môi trường. Trong đó có phương án, biện pháp và tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường làng nghề. Quy định rõ trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp xã, ủy ban nhân dân cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có làng nghề về công tác bảo vệ môi trường làng nghề. Về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu: luật này đã quy định về phế liệu nhập khẩu từ nước ngoài vào việt nam phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường và thuộc danh mục phế liệu được phép nhập khẩu. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu phải đáp ứng các yêu cầu và thực hiện các trách nhiệm cụ thể về công tác bảo vệ môi trường.
- thứ sáu, xử lý ô nhiễm, phục hồi và cải thiện môi trường
Chương này đã sắp xếp thứ tự các nhóm nội dung theo tính ưu tiên: xử lý ô nhiễm, phục hồi và cải thiện môi trường có điểm mới so với luật bảo vệ môi trường năm 2005 là sắp xếp nội dung theo thứ tự: phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường[4]. Theo đó, luật này đã bổ sung nội dung xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; trách nhiệm trong khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường và xác định thiệt hại do sự cố môi trường. Về xác định ô nhiễm do sự cố môi trường đã được bổ sung với các nội dung điều tra, xác định khu vực ô nhiễm do sự cố môi trường; trách nhiệm điều tra, xác định nhằm tạo hiệu quả hơn trong công tác giải quyết sự cố môi trường.
- thứ bảy, bồi thường thiệt hại về môi trường
Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã bổ sung nguyên tắc xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường. Theo đó “người đứng đầu trực tiếp của tổ chức phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường có liên quan đến hoạt động của tổ chức mình; tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra; trường hợp cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường do thực hiện nhiệm vụ được tổ chức giao thì tổ chức phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”[5]. Đây là một trong những nguyên tắc được tuân thủ xuyên suốt trong xây dựng và thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường. Nguyên tắc xử lý trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường có ý nghĩa quan trọng đối với việc khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường mà không phải lúc nào cũng thể hiện ngay hoặc lúc nào cũng có thể đánh giá ngay được.
Ngoài những điểm mới đã nêu trên, trong luật bảo vệ môi trường năm 2014 còn có những bổ sung, sửa đổi, cập nhật và quy định mới các nội dung về đánh giá môi trường chiến lược và đánh giá tác động môi trường; kế hoạch bảo vệ môi trường; giấy chứng nhận về các hoạt động liên quan đến bảo vệ môi trường và tái sử dụng, tái chế chất thải…
3. Một số định hướng trong công tác giảng dạy, nghiên cứu
Một là, cần phổ biến, triển khai, giới thiệu luật bảo vệ môi trường nói chung và những điểm mới trong luật bảo vệ môi trường năm 2014 nói riêng đến cán bộ, giảng viên và sinh viên với những nội dung, hình thức phương pháp tuyên truyền phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và mục đích, yêu cầu của từng đơn vị, bộ phận. Bên cạnh đó, trong phong trào của các đoàn, hội nên tiến hành các cuộc thi tìm hiểu về nội dung và những điểm mới trong luật bảo vệ môi trường năm 2014 cho các thành viên, gắn cuộc thi với các phong trào “trồng cây xanh”, “chăm sóc cây cảnh”…bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp tại trường, đơn vị, lớp học.  
Hai là, trong công tác giảng dạy, lựa chọn và giới thiệu những vấn đề mới về nội dung, cấu trúc, thuật ngữ; những thay đổi có tính kế thừa, bổ sung; quan điểm tiếp cận… trong luật bảo vệ môi trường năm 2014, gắn với nội dung của từng tiết giảng, bài học và môn học; xây dựng các chủ đề hội thảo cho sinh viên với những nội dung cụ thể, thiết thực, gắn với việc học tập, rèn luyện và bảo vệ môi trường của sinh viên nhằm chủ động trang bị kiến thức cho sinh viên; tiến hành sinh hoạt chuyên môn theo những chủ đề cụ thể trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học, trong đó có công tác đào tạo chuyên ngành; bước đầu tiến hành công tác sơ kết, tổng kết những môn học liên quan trực tiếp đến các kiến thức về môi trường, bảo vệ môi trường; pháp luật về bảo vệ môi trường nhằm nhận diện những ưu điểm và tồn tại của luật bảo vệ môi trường năm 2014 trên phương diện quy định và thực tiễn, nhất là các quy định có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường.
Ba là, phát hiện vấn đề nghiên cứu khoa học trong công tác ứng phó với biến đổi khí hậu; vai trò của lực lượng công an nhân dân với công tác ứng phó với biến đổi khí hậu; phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường, suy thoái môi trường. Trên cơ sở căn cứ vào những quy định trong luật bảo vệ môi trường năm 2014 để xây dựng và đăng ký các công trình nghiên cứu khoa học ở các cấp độ khác nhau về bảo vệ môi trường trong các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của lực lượng công an nhân dân nói chung và lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường nói riêng phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu.
Trên đây là những điểm mới của luật bảo vệ môi trường năm 2014 so với luật bảo vệ môi trường năm 2005 cần nhận diện, nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu. Rất mong được sự quan tâm của đồng nghiệp./.

 
 

[1] Điều 38 và điều 43- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005
[2] Tờ trình số 315/TTr-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 8 năm 2013 về Dự án Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi)
[3] Khoản 1, Điều 3- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
[4] Chương IX- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005
[5] Điều 64- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014

Tác giả bài viết: Trần Đức Trung
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc