Rss Feed
Chào mừng Khai giảng năm học 2020-2021 Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông đường bộ - Tìm hiểu từ góc độ quy định của pháp luật

Đăng lúc: Thứ năm - 05/05/2016 08:58 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
       Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định về bảo đảm TTATGT đường bộ và phòng ngừa tai nạn giao thông đường bộ là biện pháp quan trọng mang tính cơ sở nhằm tạo ra hành lang pháp lý cho quản lý nhà nước về GTĐB. Theo đó các cơ quan quản lý nhà nước về GTĐB có căn cứ pháp lý vững chắc để thực thi nhiệm vụ của mình. Các chủ thể tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm các quy định này, điều khiển hành vi của mình không lệch chuẩn. Khi có người vi phạm hoặc gây tai nạn giao thông đường bộ thì cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan Công an có căn cứ để xử lý đúng người, đúng lỗi, đúng hành vi vi phạm. Do đó ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về bảo đảm TTATGT đường bộ và phòng ngừa tai nạn giao thông đường bộ càng hoàn thiện bao nhiêu thì càng có cơ sở đảm bảo để công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB đạt hiệu quả bấy nhiêu.
       Những tồn tại, bất cập trong lĩnh vực này được định lượng về con số thống kê tai nạn giao thông đường bộ trung bình hàng năm. Ông Lee Jong  Wook - Tổng giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho biết : “Những con số về tai nạn giao thông (TNGT) hiện nay như thế là đủ để báo động. Nếu cứ đà này, đến năm 2020, số người chết và thương tật hằng ngày trên các nẻo đường trái đất sẽ tăng hơn 60%”1.  Việt Nam  là  một  trong  những quốc gia có số nạn nhân chết do TNGT chiếm tỷ lệ cao trên thế giới. Trong 5 năm  qua  (2010  đến  2014)  trung  bình mỗi năm trên cả nước xảy ra 36.687 vụ TNGT làm chết 9.974 người và bị thương 38.819 người.
       Quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB ở Việt Nam đã và đang là một vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Từ trước đến nay Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các ngành và các cấp đã ban hành rất nhiều văn bản, nhiều biện pháp hành chính để đảm bảo an toàn giao thông trên toàn quốc nhưng tình hình TNGT xem ra vẫn như con ngựa bất kham, chưa kìm chế được. Để sáng tỏ hơn vấn đề luôn mang tính thời sự này, chúng tôi đã tìm hiểu qúa trình phát triển quy định của pháp luật từ trước đến nay về công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB. Xin mạnh dạn trao đổi để cùng tham khảo.
       1. Giai đoạn trước Luật giao thông đường bộ năm 2001
      Từ năm 2001 trở về trước, quy định pháp luật về công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB nói chung còn ít và thiếu đồng bộ. Sau khi đất nước thống nhất, Chính phủ đã ban hành Điều lệ phạt vi cảnh kèm theo Nghị định 143/CP ngày 27/5/1977. Đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng đầu tiên quy định những hành vi xâm hại đến trật tự an toàn xã hội nói chung, trong đó có hành vi xâm hại đến TTATGT đường bộ và những chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi đó. Hình thức xử phạt vi cảnh gồm: cảnh cáo, phạt tiền, phạt lao động công ích, phạt giam. Hình thức phạt lao động công ích và phạt giam cho đến nay vẫn chưa được tái lập mà tính hợp lý của chúng nhiều sách báo vẫn đánh giá cao vì phù hợp lý luận và quy định của nhiều nước trên thế giới và hiệu quả cao trong thực tiễn3. Theo chức năng quản lý nhà nước của mình, ngày 10/3/1983 Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư số 51-TT/PC hướng dẫn việc xét, cấp giấy phép cho xe ô tô chạy đường dài. Tiếp theo, ngày 26/9/1983 Bộ Giao thông vận tải ban hành Thông tư số 185-TT/PC hướng dẫn thi hành Điều lệ bảo vệ đường bộ. Ngày 6/7/1985 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 200-HĐBT sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ phạt vi cảnh và bổ sung thêm một số quy định vi phạm trong lĩnh vực GTĐB như: Phơi rơm rạ, thóc lúa và các thứ khác trên đường phố, đường ô tô; thả rong súc vật, chăn dắt súc vật trên đường ô tô; buộc súc vật vào cây cối, cọc tiêu, cột báo hiệu ở hai bên đường.
       Từ khi đất nước bước vào thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, với sự tác động của nền kinh tế thị trường, tăng trưởng kinh tế ở nước ta trong 5 năm đầu của thập niên 90 thế kỷ XX đã có những bước nhảy vọt. Các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển mạnh, nhu cầu phát triển giao thông vận tải nói chung, GTĐB nói riêng đã kéo theo sự tăng nhanh của các phương tiện tham gia giao thông và các loại hình giao thông, trong khi kết cấu hạ tầng giao thông còn chậm phát triển, chưa phù hợp với sự bùng nổ dân số và các loại phương tiện tham gia giao thông. Quản lý nhà nước trong lĩnh  vực  GTĐB  ở  thời  điểm  này  còn bộc lộ nhiều hạn chế bất cập, tình hình TTATGT đường bộ ở những năm đầu của thập niên 90 thế kỷ XX còn nhiều diễn biến phức tạp, tình hình vi phạm các  quy  tắc  ATGT  như  lái  xe  không giấy phép, chạy quá tốc độ, vượt ẩu, xây dựng lều quán trái phép, lấn chiếm lòng đường và vỉa hè gây ùn tắc giao thông còn diễn ra khá phổ biến trong phạm vi toàn quốc. Đặc biệt là tình hình tai nạn giao thông đường bộ tăng nhanh cả số vụ và thiệt hại gây ra cho xã hội. Trong bối cảnh đó, ngày 28/5/1991, Bộ Nội vụ và Bộ Giao thông vận tải đã thống nhất ra Quyết định liên bộ số 44/QĐ-LB thành lập  Ban  Chỉ  đạo  ATGT  Trung  ương. Ngày 26/5/1995 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 317/TTg về tăng cường công tác quản lý TTATGT đô thị. Ngày 29/5/1995, Chính  phủ  ban  hành  Nghị định 36/1995/CP về bảo đảm TTATGT đường bộ và TTATGT đô thị, đồng thời ban hành kèm theo Điều lệ TTATGT đường bộ và TTATGT đô thị (gồm 7 chương, 74 điều)3. Có thể nói rằng, Nghị định 36/1995/CP cùng Điều lệ TTATGT đường bộ và TTATGT đô thị là văn bản quy phạm pháp luật quy định tương đối đầy đủ, chi tiết các hoạt động liên quan đến GTĐB ở nước ta. Vì vậy Nghị định 36/1995/CP đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng.
       Sau hơn 3 năm thực hiện bản Điều lệ,  những  tiến  bộ  nhất  định  về  thực tiễn quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB đã khẳng định giá trị to lớn và sự đúng đắn của nó. Tuy vậy, bản Điều lệ TTATGT đường bộ và TTATGT đô thị cũng đã bộc lộ những thiếu sót, có những quy định không còn phù hợp với sự vận động và phát triển của các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực GTĐB. Mặt khác, do quá trình phát triển nhanh của xã hội đã nảy sinh mâu thuẫn giữa nhu cầu đi lại của các chủ thể tham gia giao thông với kết cấu hạ tầng GTĐB gây nhiều bất an cho người và phương tiện đi lại trên đường. Trước thực tiễn này, ngày 29/10/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 917/1997/QĐ-TTg thành lập  Ủy ban ATGT quốc gia; Và ngày 26/9/1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/1998/NĐ-CP sửa đổi bổ sung 21 điều trong Điều lệ TTATGT đường bộ và TTATGT đô thị. Sau thời gian thực hiện Nghị Định 36/1995/CP, Nghị định 75/1998/NĐ-CP tình hình TTATGT đường bộ có nhiều chuyển biến tích cực, được cải thiện một bước đáng kể nhưng thực tiễn vẫn nảy sinh những diễn biến bất thường ảnh hưởng đến TTATGT đường bộ.
       2.  Giai đoạn từ Luật giao thông đường bộ năm 2001 đến trước Luật giao thông đường bộ năm 2008
       Bước vào thế kỷ XXI, nhiều vấn đề trong nước và quốc tế đã biến đổi to lớn, với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đặt ra cho đất nước ta nhiều cơ hội mới và cũng không ít những thách thức mới. Do đó phải tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB nói chung, bảm đảm TTATGT đường bộ, hạn chế tai nạn giao thông đường bộ bằng nhiều biện pháp hành chính và tăng cường pháp luật trong lĩnh vực GTĐB là đòi hỏi bức xúc. Để đề cao ý thức trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước nhằm bảo đảm TTATGT đường bộ phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như nhu cầu đi lại của nhân dân, ngày 29/6/2001, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá X đã thông qua Luật Giao thông đường bộ (Luật GTĐB năm 2001), có hiệu lực từ ngày 01/01/2002. Trong khi chuẩn bị các điều kiện để thực hiện Luật GTĐB năm 2001 và hướng dẫn cụ thể thi hành Luật này, đồng thời vẫn duy trì tốt việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB, ngày 10/7/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 36/2001/NĐ- CP về việc bảo đảm TTATGT đường bộ và TTATGT đô thị thay thế Nghị định 36/1995/CP ngày 29/5/1995 của Chính phủ và Nghị định số 75/1998/NĐ-CP ngày 26/9/1998  của  Chính  phủ  trong giai đoạn trước. Ngày 13/7/2001, Chính phủ ban hành Nghị định 39/2001/NĐ- CP Quy định xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm TTATGT đường bộ và TTATGT đô thị.
       Sau một thời gian thực hiện Nghị định số 36/2001/NĐ-CP và Nghị định số 39/2001/NĐ-CP, tình hình TTATGT đường bộ và TTATGT đô thị vẫn chưa có chuyển biến mạnh, tai nạn giao thông đường bộ còn xảy ra nhiều về số vụ và mức độ thiệt hại. Trước tình hình đó, ngày 19/11/2002, Chính phủ ban hành Nghị  quyết  số  13/2002/NQ-CP  về  các giải pháp kiềm chế gia tăng và tiến tới giảm dần TNGT và ùn tắc giao thông. Mặt  khác,  Nghị  định  số  36/2001/NĐ- CP  và  Nghị  định  số  39/2001/NĐ-CP sau một thời gian thực hiện đã bộc lộ một số thiếu sót, một số nội dung không còn phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, ngày 19/02/2003, Chính  phủ  đã  ban  hành Nghị định số 14/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật GTĐB 2001 và Nghị định số 15/2003/ NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về GTĐB. Ngày 24/02/2003, Ban Bí Thư trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 22-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm TTATGT. Tiếp đó ngày 12/3/2003 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 04/2003/ CT-TTg triển khai thực hiện Chỉ thị số 22/CT-TW ngày 24/02/2003 của Ban Bí thư, tiếp  tục  thực  hiện  Nghị  quyết  số 13/2002/NQ-CP ngày 19/11/2002 của Chính phủ về các giải pháp kiềm chế gia tăng, tiến tới giảm dần TNGT và ùn tắc giao thông.
       Để cụ thể hóa và thực hiện Luật GTĐB 2001, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành tổng cộng 123 văn bản, trong đó có 11 nghị định của Chính phủ, 7 quyết định và 5 chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Bộ Giao thông vận tải ban hành 57 quyết định, 11 thông tư và chỉ thị; Bộ Công an ban hành 5 quyết định, 11 thông tư và 2 chỉ thị; Bộ Tài chính ban hành 9 thông tư; Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành 1 quyết định; UBND các tỉnh thành phố cũng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện Luật GTĐB tại địa phương. Năm 2004, Chính phủ ban hành ba nghị định liên quan đến lĩnh vực GTĐB.
       Qua 6 năm thi hành Luật GTĐB năm 2001, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB đã có những kết quả nhất định. Luật GTĐB 2001 và các văn bản cụ thể hóa đã tạo ra cơ sở pháp lý điều chỉnh tương đối kịp thời các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực GTĐB, góp phần hình thành ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông, thúc đẩy phát triển GTĐB, đảm bảo quốc phòng an ninh trong cả nước. Lần đầu tiên đã tạo lập những điều kiện thuận lợi để chủ động tham gia vào hoạt động vận tải, đẩy nhanh tiến trình hội nhập trong khu vực và trên thế giới, như tham gia một số cam kết công nhận giấy phép lái xe, vận chuyển người và hàng hóa qua biên giới giữa các nước trong khu vực...
       Trong giai đoạn này, các quy định về công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB còn được quy định trong các văn bản : Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008; Nghị định số 146/2007/NĐ- CP ngày 14/9/2007 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành  chính trong lĩnh vực GTĐB và Nghị định số 67/2008/ NĐ-CP ngày 29/5/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 42 Nghị định số 146/2007/NĐ-CP.
       3.  Giai đoạn từ Luật giao thông đường bộ năm 2008 đến nay
      Sau thời gian thực hiện Luật GTĐB năm 2001 và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng đã phát sinh nhiều tồn tại, như có quá nhiều quy định giao cho các bộ, ngành phối hợp với nhau thực hiện, chưa điều chỉnh kịp thời các quan hệ mới phát sinh trong lĩnh vực GTĐB,... nên hiệu quả quản lý nhà nước trong GTĐB còn thấp. Để khắc phục những tồn tại đó và tăng cường quản lý về GTĐB mạnh hơn, ngày 13/11/2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Giao thông đường bộ (Luật GTĐB năm 2008), có hiệu lực thi hành từ 01/7/2009.
       Triển khai thi hành Luật GTĐB năm 2008, chúng tôi tìm hiểu và ghi nhận được các cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành 52 văn bản, trong đó có 14 nghị định của Chính phủ, 32 thông tư của các bộ (Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế). UBND cấp tỉnh, thành phố cũng ban hành nhiều văn bản để thi hành luật tại địa phương. Giai đoạn từ năm 2008 đến nay, các quy định về công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB còn được chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật sau: Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Hệ thống 52 văn bản hướng dẫn thi hành Luật GTĐB năm 2008, trong đó có các văn bản của Chính phủ đáng chú ý như: Nghị  định  số  34/2010/NĐ-CP  ngày 02/4/2010 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB thay thế Nghị định số 146/2007/NĐ-CP; Nghị  định  số  71/2012/NĐ-CP  ngày 19/9/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP; Nghị định   171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB và đường sắt thay thế Nghị định số 34/2010/NĐ-CP; Nghị định 107/2014/NĐ-CP ngày 17/11/2014 của Chính phủ về sửa đổi, bổ  sung  một số điều của Nghị định 171/2013/NĐ-CP. 
       Với chức năng tham gia công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB, Bộ Công an cũng đã ban hành nhiều Thông tư liên quan5 Triển khai Luật GTĐB năm 2008 cùng hệ thống văn bản cụ thể hoá và hướng dẫn thi hành nêu trên, do phạm vi điều chỉnh đã được bổ sung đầy đủ hơn, các quy tắc GTĐB cũng được quy định rõ ràng và đầy đủ hơn nên công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB đã mở sang trang mới. Luật GTĐB năm 2008 đã quy định cụ thể nhiệm vụ của cơ quan Thanh tra giao thông trong bảo vệ kết cấu hạ tầng GTĐB, Cảnh sát giao thông tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm, việc huy động  các  lực  lượng  cảnh  sát khác, Công an xã tham gia công tác bảo đảm TTATGT đường bộ... do đó, hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực này đã được tăng cường. Tuy nhiên, so với một số quốc gia trong khu vực thì quy định quản lý nhà nước về GTĐB của pháp luật Việt Nam vẫn còn nhẹ mức xử lý nên hạn chế tác dụng răn đe và giáo dục chung. Bởi vậy ta cần phải sửa đổi  Nghị  định  171/2013/NĐ-CP  ngày 13/11/2013 của Chính phủ theo hướng tăng nặng hình thức xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB để phát huy tác dụng răn đe và giáo dục chung được tốt hơn, có hiệu quả hơn.
       Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB thời gian qua còn phải kể đến vai trò của những quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985, sửa đổi, bổ sung các năm 1989, 1991, 1992, 1997; Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 về những tội danh trong lĩnh vực GTĐB đã phát huy tác dụng to lớn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong đó có các tội phạm trên lĩnh vực GTĐB. Tuy nhiên, phân tích nội dung các văn bản nêu trên không nằm trong phạm vi bài viết này.
Tác giả bài viết: ThS. Nguyễn Trọng Tam -Phó trưởng Phòng Hành chính tổng hợp,Trường Đại học CSND
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

Ý kiến bạn đọc