Rss Feed
Chào mừng Khai giảng năm học 2020-2021 Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội của một số nước trên thế giới và liên hệ ở Việt Nam

Đăng lúc: Thứ sáu - 04/03/2016 06:29 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
      Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa mạnh mẽ như hiện nay, nhiều thời cơ thuận lợi lẫn những thách thức đan xen tồn tại song hành đòi hỏi tất cả các quốc gia phải có những bước đi chiến lược, phải hội nhập toàn diện trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt phải tham gia ngày càng đầy đủ và sâu rộng hơn  vào các diễn đàn  đối thoại mang tầm quốc tế, phải tiến hành  hòa nhập trên nhiều phương diện, trong đó phải kể đến phương diện luật pháp.  Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng phải đảm bảo những cam kết quốc tế, điều ước quốc tế mà mỗi quốc gia là thành viên, phải làm sao nội luật hóa các quy định quốc tế vào pháp luật quốc gia đảm bảo nguyên tắc về sự phù hợp giữa truyền thống, lịch sử, văn hóa, địa lý của quốc gia với những giá trị chung của nền văn minh nhân loại, và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, không thể nằm ngoài xu thế chung đó. Với ý nghĩa như vậy, việc nghiên cứu dưới góc độ luật học so sánh nhiều khía cạnh khác nhau về các vấn đề của pháp luật Việt Nam cũng như các nước trong khu vực và trên thế giới có ý nghĩa chính trị, pháp lý và xã hội sâu sắc1. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu, trao đổi những khía cạnh khác nhau dưới góc độ so sánh pháp luật của một số nước trên thế giới và liên hệ ở Việt Nam về chính sách hình sự (CSHS) đối với người chưa thành niên (NCTN) phạm tội.
      Thứ nhất, về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội
      Nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội là một trong những vấn đề cần lưu ý hàng đầu khi bàn về trách nhiệm hình sự của NCTN phạm tội. Các nước trên thế giới đều xác định cho mình một tiêu chí khác nhau, trong đó mỗi quốc gia đều đưa ra quan điểm của mình, thể hiện CSHS của chính quốc gia đó. Nhìn chung các quốc gia đều thấm nhuần nguyên tắc nhân đạo (tuy ở các mức độ khác nhau) khi xử lý NCTN phạm tội.
      Theo Công ước quốc tế về các quyền dân  sự, chính  trị  năm  1966, Khoản 5 Điều 6 quy định: “Không được phép tuyên hình phạt tử hình đối với người phạm tội dưới 18 tuồi”; Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em, Điều 37(a) quy định: “Hình phạt tử hình hoặc tù chung thân sẽ không được áp dụng với những người dưới 18 tuổi ở thời điểm thực hiện hành vi phạm tội”. Như vậy, việc áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi tại thời điểm phạm tội là trái với pháp luật và tập quán quốc tế. Từ các quy định quốc tế trên, có thể thấy nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội mà hầu hết các quốc gia quy định là không áp dụng hình phạt tù chung thân và tử hình đối với NCTN phạm tội. Cụ thể: Khoản 5 Điều 69 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 quy định “Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với NCTN phạm tội”; Khoản 2 Điều 58 và Khoản 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga năm 1995 quy định: “Không áp dụng tù chung thân đối với người chưa đủ 18 tuổi”,“Tử hình không áp dụng đối với người chưa đủ 18 tuổi”; Điều 48 Bộ luật Hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1979 quy định: “Tử hình chỉ được áp dụng đối với những người phạm tội nghiêm trọng nhất trừ người phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi khi xét xử”.
      Mặc dù vậy, không phải mọi quốc gia đều áp dụng và tuân thủ triệt để nguyên tắc nhân  đạo nêu trên. Tuy pháp  luật quốc tế cấm áp dụng hình phạt tử hình đối với NCTN phạm tội, song hiện nay trên thế giới vẫn còn một số nước tuyên và thi hành án tử hình đối với NCTN một cách công khai hoặc không chính thức. Trong số ít quốc gia duy trì hình phạt tử hình đối với NCTN phạm tội, Iran là quốc gia đứng đầu danh sách về số vụ thi hành án tử hình. Iran có tới 98,5% dân số theo Đạo Hồi, vì lẽ đó, pháp luật Iran là một trong những nền pháp luật hà khắc nhất trên thế giới, không có sự phân biệt nào giữa hình phạt dành cho người thành niên phạm tội và NCTN phạm tội. NCTN phạm  tội  vẫn bị áp dụng hình phạt tử hình, điều đáng nói, số lượng người phạm tội bị tử hình ngày càng tăng. Hoặc, ở nước Mỹ trước đây có tới 37 Bang áp dụng hình phạt tử hình và điều đặc biệt hơn là hình phạt này có thể áp dụng đối với bị cáo 16 tuổi, nếu như bị cáo thực hiện tội phạm giết người man rợ hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên hiện nay, sau nhiều tranh cãi, Tòa án Tối cao Mỹ đã bỏ phiếu thống nhất bỏ hình phạt tử hình đối với những người phạm tội giết người nhưng chưa đủ 18 tuổi.
      Đặt trong sự so sánh với quy định của các quốc gia về trách nhiệm hình sự của NCTN phạm tội có thể thấy pháp luật hình sự Việt Nam nhân đạo và đã có sự tương đồng với xu thế chung của thế giới trong việc lựa chọn, xây dựng, áp dụng nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội,  thể  hiện  sự tương  thích  giữa các quốc gia (ở mức độ tương đối) trong quy định về trách nhiệm hình sự của NCTN phạm tội.
      Thứ hai, về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
      Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em quy định: “Trong phạm  vi của công ước này trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quyết định tuổi vị thành niên sớm hơn”, hoặc những Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do có quy định: “Những NCTN là người dưới 18 tuổi”. Như vậy, hiểu theo tinh thần của Liên hợp quốc thuật ngữ NCTN sẽ bị chi phối bởi độ tuổi. Cụ thể, Liên hợp quốc quy định tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi và ở độ tuổi dưới 18 này khi có hành vi vi phạm pháp luật sẽ có một cơ chế giải quyết riêng.
Vấn đề ở đây là trách  nhiệm  hình sự đặt ra đối với NCTN phạm tội (tức là người dưới 18 tuổi)  nhưng  độ tuổi tối thiểu phải chịu trách nhiệm hình sự là bao nhiêu? Điều này đã được nêu ra trong Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do: “NCTN là người dưới 18 tuổi, giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật quốc gia xác định”. Đây là vấn đề mà không phải mọi quốc gia đều có chung một quan điểm. Mỗi quốc gia đều lựa chọn cho mình một độ tuổi thích hợp để áp dụng, tùy thuộc vào hoàn cảnh, tính chất, vị trí địa lý, đặc điểm, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán, văn hoá. Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự của NCTN là từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Mức tuổi tối thiểu phải chịu trách nhiệm hình sự của NCTN ở nước ta là từ đủ 14 tuổi. Đây cũng là quy định tương đồng với một số nước trên thế giới như: Nhật Bản, Liên bang Nga, Rumani, Italy. Chẳng hạn: Điều 41 Bộ luật Hình sự Nhật Bản quy định: “Hành vi của người dưới 14 tuổi không bị xử phạt”; Điều 88 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định: “NCTN là người lúc thực hiện tội phạm đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi”; Ruwada xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 14 tuổi nhưng người từ 14 đến dưới 18 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự hạn chế. Như vậy, có thể thấy các quốc gia có thể lựa chọn độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong khuôn khổ mà Liên Hợp Quốc cho phép. Và trên một phương diện nào đó, các quốc gia có sự tương đồng trong việc lựa chọn độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
      Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia lựa chọn độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự khác với quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam. Cụ thể: Singapo, Nigeria, Sip, Gana xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 7 tuổi; Inđônêxia, Mianma, Scotlen lựa chọn tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 8 tuổi; Anh, Neepan, Ucraina xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 10 tuổi; Trung Quốc, Canada, Jamaica xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 12 tuổi; Pháp, Balan xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 13 tuổi. Đây là những  quốc gia xác định  độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn so với Việt Nam (dưới 14 tuổi). Có những quốc gia quy định độ tuổi rất thấp (7 tuổi). Điều này cho thấy sự khác biệt rất lớn trong quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự của NCTN phạm tội của các quốc gia trên thế giới.
      Một số quốc gia quy định độ tuổi tối thiểu chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với Việt Nam (trên 14 tuổi) bao gồm: Thụy Điển, Na uy, Lào xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 15 tuổi. Cụ thể: Điều 6 Chương I Bộ luật Hình sự Thụy Điển  quy định:  “Không áp dụng hình phạt đối với người phạm tội chưa đủ 15 tuổi”. Điều 17 Bộ luật Hình sự Lào quy định: “Người chưa đủ  15 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”; Cuba, Bồ Đào Nha, Achentina xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 16 tuổi; Braxin, Colombia, Peru xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 18 tuổi2.
      Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là do mỗi quốc gia có truyền thống lịch sử, văn hóa, quan niệm về đạo đức, phong tục, tập quán khác nhau. Mặt khác, còn do sự phát triển không đồng đều về kinh tế, chính trị, xã hội, sự khác biệt về đặc điểm sinh học của từng chủng người cũng như CSHS và yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ở mỗi quốc gia. Quy tắc tối thiểu về việc áp dụng pháp luật với NCTN quy  định: “Trong hệ thống pháp luật thừa nhận khái niệm độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thanh niên,  thì  không được quy định quá thấp độ tuổi bắt đầu phải chịu trách nhiệm hình sự, có tính đến thực tế của độ tuổi trưởng thành về trí tuệ, tinh thần và tình cảm”. Như vậy, các quốc gia có quyền lựa chọn độ tuổi tối thiểu chịu trách  nhiệm  hình  sự. Tuy nhiên, Liên Hợp Quốc vẫn nhấn mạnh việc khuyến khích các nước áp dụng tuổi chịu trách nhiệm  quá thấp  theo hướng nâng cao độ tuổi đó lên nhằm phát huy tinh thần nhân đạo trong xử lý NCTN phạm tội.
      Thứ ba, hệ thống hình phạt chính áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
      Hình phạt là chế tài quan trọng nhằm thể  hiện  sự giáo dục và trừng  trị  các hành vi nguy hiểm cho xã hội. Mỗi quốc gia xây dựng cho mình  một  hệ thống hình phạt khác nhau nhằm áp dụng phù  hợp  đối  với từng  loại tội  phạm. Đối với NCTN phạm tội, hệ thống hình phạt chính được áp dụng thường ít hơn và nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội. Có thể thấy các quốc gia đều tuân thủ và thực hiện một nguyên tắc chung đó là nguyên tắc nhân đạo trong xử lý NCTN phạm tội.
      Đối với một số quốc gia, quy định về hình phạt chính áp dụng cho NCTN cũng có một số điểm tương đồng với Bộ luật Hình sự Việt Nam. Chẳng hạn: Theo Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, Điều 89 quy định về các loại hình phạt đối với NCTN gồm: Phạt tiền; Tước quyền tiến hành hoạt động nhất định; Lao động cải tạo; Lao động bắt buộc; Phạt giam; Phạt tù có thời hạn. So với Bộ luật Hình sự Việt Nam, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga tương đồng ở hai loại hình  phạt: Phạt tiền và phạt tù có thời hạn. Còn lại với các hình phạt: Tước quyền tiến hành hoạt động nhất định, lao động bắt buộc, lao động cải tạo, phạt giam thì trong Bộ luật Hình sự Việt Nam không quy định. Theo quy định của Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, hệ thống hình phạt chính áp dụng cho NCTN hết sức phong phú, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga đưa ra các hình phạt chủ yếu nhằm mục đích giáo dục và cải tạo NCTN phạm tội, hình thành cho họ ý thức lao động, ý thức về hành vi phạm tội cũng như hậu quả mà họ gây nên. Điều này hoàn toàn hợp lý bởi như đã phân tích, NCTN là một đối tượng đặc biệt trong hoạt động tư pháp. Các hình phạt đưa ra đối với đối tượng này phải đảm bảo tính chất vừa nhân đạo, vừa giáo dục, giúp đỡ hơn là trừng phạt.
      Bộ luật Hình sự Thụy Điển quy định về hình phạt áp dụng cho người đã thành niên phạm tội cũng được áp dụng cho cả NCTN phạm tội. Với hai đối tượng này hình phạt giống nhau nhưng mức áp dụng khác nhau. Điều 3 Chương I Bộ luật Hình sự Thụy Điển quy định các hình phạt đối với tội phạm gồm: Phạt tiền; Phạt tù; Buộc phải chịu thử thách; Bản án có điều kiện; Bắt buộc chữa bệnh. Bộ luật Hình sự Thụy Điển quy định áp dụng hình phạt buộc phải chịu thử thách và bắt buộc chữa bệnh. Nhìn nhận một cách khách quan bắt buộc chữa bệnh với tư cách là một hình phạt thì không được hợp lý bởi lẽ bản chất của bắt buộc chữa bệnh là giúp người phạm tội loại bỏ, hạn chế được bệnh lý, giúp người đó khỏe mạnh. Còn mục đích của việc áp dụng hình  phạt  đối với NCTN phạm  tội là giáo dục, trừng trị giúp họ loại bỏ những hành vi, những suy nghĩ xấu để trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội.
      Điều 9 Chương II Bộ luật Hình  sự Nhật Bản quy định, hình phạt áp dụng đối với NCTN bao gồm: Tử hình; Tù có lao động bắt buộc; Tù không có lao động bắt buộc; Phạt tiền; Phạt giam hình sự; Phạt tiền về tội hình sự nhỏ; Phạt giam vì không nộp đủ tiền phạt. Theo quy định trên thì hình phạt tử hình được áp dụng đối với NCTN phạm  tội. Đây là điểm khác biệt giữa Bộ luật Hình sự Nhật Bản với Bộ luật Hình sự các nước, trong đó có Việt Nam. Bộ luật Hình sự Nhật Bản quy định hình phạt áp dụng đối với NCTN phạm tội giống như người đã thành niên phạm tội, tương tự như Bộ luật Hình sự Thụy Điển.
      Bộ luật Hình sự Lào quy định các hình phạt chính áp dụng đối với NCTN bao gồm: Phê bình công khai; Phạt cải tạo không giam giữ; Tù giam. Điểm tương đồng của Bộ luật Hình sự Lào và Bộ luật Hình sự Việt Nam về quy định hình phạt chính áp dụng cho NCTN phạm tội là hình phạt cải tạo không giam giữ. Bộ luật Hình sự Lào quy định phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với NCTN phạm tội. Chỉ trong những trường hợp nhất định theo quy định của pháp luật mới được xem là hình phạt chính.
      Pháp luật hình sự của Anh quy định về hình phạt áp dụng đối với NCTN phạm tội bao gồm: Phạt tù; Phạt tiền; Hình phạt hạn chế tự do. Hình phạt hạn chế tự do không tước tự do hoàn toàn đối với người phạm tội trong khoảng thời gian nhất định mà chỉ hạn chế, người bị kết án sẽ bị hạn chế một số quyền, đặc biệt chịu sự giám sát, kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương.
      Bộ luật Hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định hệ thống hình phạt chính áp dụng đối với NCTN, bao gồm: Quản chế; Phạt giam hình sự; Phạt tù. Bộ luật Hình sự của Cộng hòa Pháp quy định hình phạt áp dụng đối với NCTN bao gồm: Phạt tù; Phạt tiền, phạt tiền theo ngày, lao động công ích; Tước hoặc hạn chế quyền nhất định.
      Bộ luật Hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức quy định hình phạt áp dụng đối với NCTN bao gồm: Phạt tù; Phạt tiền; Phạt tài sản. Phạt tài sản là một quy định mới trong Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức so với các quốc gia khác. Quy định về phạt tài sản nếu áp dụng đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam thì rất khó khả thi, bởi lẽ pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi được phép tham gia quan hệ lao động là 16 tuổi trở lên. Do đó, trên thực tế những người này chưa có tài sản, họ chưa lao động nên chưa tạo ra được tài sản cho bản thân. Một số trường hợp có tài sản do được tặng cho, thừa hưởng di sản, thừa kế để lại nhưng rất hạn chế.
      Thông qua việc so sánh hệ thống hình phạt chính áp dụng đối với NCTN phạm tội ở một số quốc gia, có thể nhận thấy một điều là hầu như các quốc gia khi quy định hình phạt đối với NCTN phạm tội đều áp dụng hai loại hình phạt là: phạt tiền và phạt tù. Hầu hết các quốc gia đều lựa chọn đây là hình phạt chính để xử lý NCTN phạm tội. Có thể thấy, đây là hai loại hình phạt đặc trưng và phổ biến nhất,  là những  hình  phạt gắn liền khi xây dựng hệ thống chế tài hình sự ở một quốc gia.
      Thứ tư, về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
     Quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội là một vấn đề rất được chú ý khi xét xử vụ án hình sự có sự tham gia của NCTN phạm  tội. Việc quyết định hình phạt bao giờ cũng phải xuất phát từ tính nhân đạo, coi mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội là chủ yếu. Do đó, khi quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội, quy định của pháp luật hình sự ở các quốc gia đều cân nhắc việc giảm nhẹ đặc biệt nhằm đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho NCTN3. Chẳng hạn:
Điều 89 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định tương ứng với mỗi hình phạt có một chế tài áp dụng khác nhau, trong đó đáng lưu ý là quy định về phạt tù. Khoản 5 Điều 89 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga quy định: “Phạt tù được quyết định đối với người bị kết án chưa thành niên với thời hạn không quá 10 năm”. Như vậy có thể thấy sự khác biệt giữa Bộ luật Hình sự Việt Nam và Bộ luật Hình  sự Liên Bang Nga trong vấn đề này. Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định mức phạt tù đối với NCTN từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là không quá 18 năm; NCTN từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là không quá 12 năm. Điều này cho thấy tính chất nghiêm khắc hơn của Bộ luật Hình sự Việt Nam so với Bộ luật Hình sự Liên bang Nga. Tuy nhiên, đối với hình phạt tiền cả hai Bộ luật Hình sự đều có điểm tương đồng vì xuất phát từ nguyên tắc: “Phạt tiền chỉ áp dụng trong trường hợp NCTN có thu nhập hoặc tài sản riêng” (Bộ luật Hình sự liên bang Nga), và “Phạt tiền được áp dụng đối với NCTN phạm tội... nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng” (Bộ luật Hình sự Việt Nam).
      Trong Bộ luật Hình sự Liên Bang Nga cũng quy định  về áp dụng  biện pháp giáo dục bắt buộc đối với NCTN phạm tội. Đây cũng là một điểm tương đồng đối với Bộ luật Hình sự Việt Nam, tuy nhiên  với cách đặt  tên  khác nhau,  cụ thể Bộ luật Hình sự Việt Nam gọi đó là các biện pháp tư pháp quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự Việt Nam. Bản chất của biện pháp giáo dục hay biện pháp tư pháp đều cùng chung mục đích là nhằm giáo dục NCTN, truy cứu trách nhiệm hình  sự đối với họ  trong  trường  hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nhưng chưa đến mức phải áp dụng hình phạt chính.
      Pháp luật hình sự Vương quốc Anh quy định, ngoài những hình phạt chính áp dụng đối với NCTN phạm tội, còn có một số biện pháp như kiểm tra, giám hộ... Bố mẹ và người giám hộ phải chịu trách nhiệm về đạo đức của NCTN. Ngoài ra, còn áp dụng một số hình phạt bổ sung như tước quyền lái xe, lao động bắt buộc từ 40 giờ đến 120 giờ, hình  phạt  tiền được áp dụng đối với NCTN có mức từ 25 đến 1000 bảng Anh. Ở Anh có các nhà tù dành riêng cho NCTN phạm tội. Đây được xem là một bước tiến bộ so với một số quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Việc xây dựng một nhà tù riêng cho NCTN phạm tội sẽ tạo điều kiện thuận lợi cũng như hiệu quả trong công tác xét xử đối với đối tượng này, ngăn cách họ để họ không có nguy cơ bị ảnh hưởng, tiêm nhiễm những thói hư, tật xấu trong suy nghĩ, hành động của người đã thành niên. Ngoài ra, pháp luật hình sự của Anh còn quy định về hình phạt hạn chế tự do; hạn chế tự do suốt đời trong trường hợp NCTN phạm tội nghiêm trọng. Hai hình phạt này chỉ được áp dụng trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng mà theo quan điểm của Tòa án không có biện pháp nào có thể tốt hơn.
      Bộ luật Hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu TNHS về một số tội phạm nhất định và ngay cả đối với những tội này thì khi quyết định hình phạt Tòa án cũng giảm nhẹ hình phạt cho họ. Điều 17 Bộ luật Hình sự: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, cố ý gây thương tích nặng, vô ý gây thương tích nặng hoặc gây chết người, hiếp dâm, cướp, buôn bán ma túy, đốt nhà, phá hoại, đầu độc. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ bị xử theo khung hình phạt nhẹ hơn hoặc được giảm nhẹ hình phạt”. Với quy định như trên, Bộ luật Hình sự không chỉ rõ giới hạn giảm nhẹ hình phạt áp dụng cho NCTN phạm tội, điều này dẫn đến tình trạng tùy tiện trong áp dụng. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự đã thể hiện đúng nguyên tắc nhân đạo trong đường lối xử lý khi quyết định hình phạt cho người chưa thành niên với mức nhẹ hơn so với khung bình thường.
      Bộ luật Hình sự Thái Lan có quy định tương đối khác biệt so với các quốc gia khác. Theo Điều 72, 74 Bộ luật Hình sự Thái Lan thì một đứa trẻ chưa đến 7 tuổi cũng bị áp dụng hình phạt vì những tội đã được pháp luật quy định. Trẻ em từ 7 tuổi đến 14 tuổi nếu phạm tội cũng bị xét xử và có thể chịu hình phạt tù nhưng Tòa án sẽ quyết định biện pháp xử lý đặc biệt bằng cách đưa vào một trường cải tạo hoặc gửi trẻ em đó cho một người hay một cơ quan mà Tòa án thấy có khả năng thích hợp với việc cải tạo, giáo dục trẻ em đó. NCTN từ 14 tuổi đến 17 tuổi có thể bị phạt và được hưởng hình phạt đặc biệt. Và đối với đối tượng này trước khi xét xử tuyên án, Tòa án bao giờ cũng xem xét kỹ hoàn cảnh, nhân thân và môi trường của người đó. Quyết định hình phạt cuối cùng luôn đề cao tính chất “nương nhẹ” đối với họ.
      Như vậy, có thể thấy rằng ở mỗi quốc gia tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội, lịch sử lập pháp, truyền thống và các yếu tố về tâm sinh lý của con người, cũng như về tình hình tội phạm và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên mà có những quy định về độ tuổi, mức độ chịu trách nhiệm hình sự, cách thức xử lý hành vi phạm tội, hình phạt... của NCTN khác nhau.  Song, không  thể phủ  nhận  một điều là mục đích xem xét, xử lý hành vi phạm tội của NCTN nhằm tạo điều kiện tốt nhất để các em sửa chữa sai lầm, phấn đấu trở thành người có đức, có tài giúp ích cho xã hội. Pháp luật của các nước đều hướng tới bảo vệ quyền con người của NCTN từ mọi góc độ.
      Thông qua việc so sánh như trên có thể rút  ra được những  điểm giống và khác nhau cơ bản giữa pháp luật hình sự Việt Nam với pháp luật hình sự một số quốc gia về vấn đề trách nhiệm hình sự của NCTN. Thấy được quy định cụ thể, nguyên nhân của việc quy định và giải thích các quy định đó. Việc so sánh cũng làm sáng tỏ CSHS và nguyên tắc xử lý ở mỗi quốc gia đối với NCTN phạm tội, từ đó đưa ra nhận xét về ưu, nhược điểm trong quy định của pháp luật hình sự Việt Nam so với pháp luật hình sự các nước trên thế giới. Với tất cả những kiến giải đó, mục đích cuối cùng của việc so sánh là nhằm đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện CSHS đối với NCTN ở Việt Nam hiện nay.
Tác giả bài viết: Thượng úy , ThS. Hoàng Minh Đức - Giảng viên Bộ môn Pháp luật, Trường Đại học CSND
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 67 (tháng 10/2015)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc