Rss Feed

Chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm tình dục trẻ em thể hiện trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Đăng lúc: Chủ nhật - 10/02/2019 06:02 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
        Chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm tình dục trẻ em ở Việt Nam hiện nay là hệ thống các quan điểm, phương hướng có tính chỉ đạo, chiến lược của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm tình dục trẻ em, trong việc sử dụng hệ thống pháp luật hình sự đó vào thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhằm phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật các hành vi phạm tội xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về tình dục và tự do tình dục của trẻ em, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em được tôn trọng và phục hồi trên thực tế1. Các bộ phận chính sách pháp luật hình sự, chính sách pháp luật tố tụng hình sự, chính sách pháp luật thi hành án hình sự, chính sách phòng ngừa tội phạm và kể cả đường lối xử lý tội phạm.
        Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý trong quy định của BLHS năm 1999, đã có những sửa đổi, bổ sung cơ bản đối với các tội xâm phạm tình dục trẻ em. Theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), các tội xâm phạm tình dục trẻ em bao gồm Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144), Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145), Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146), Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147), Tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329). Những điểm mới của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về các tội xâm phạm tình dục trẻ em đã phản ánh rõ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc lên án và xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi phạm tội xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về tình dục và tự do tình dục của trẻ em, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc phòng ngừa, trừng trị kịp thời đối với loại tội phạm này góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Cụ thể:
        Thứ nhất, về mặt kỹ thuật lập pháp, BLHS năm 2015 đã thay thế cụm từ “tỷ lệ thương tật” thành “tỷ lệ tổn thương cơ thể”; “trẻ em” thành “người dưới 16 tuổi”; “nhiều người” thành “02 người trở lên”; “phạm tội nhiều lần” thành “phạm tội từ 02 lần trở lên”; “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” thành “gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ...” và “làm nạn nhân tự sát”. Việc sửa đổi thuật ngữ pháp lý nêu trên đảm bảo sự thống nhất và đồng bộ giữa quy định của BLHS năm 2015 về các tội xâm phạm tình dục trẻ em với các văn bản pháp lý chuyên ngành.
        Thứ hai, hình sự hóa hành vi sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147). Thực tiễn cho thấy, Điều 116 BLHS năm 1999 quy định về tội dâm ô với trẻ em chưa bao quát hết các hành vi xâm phạm tình dục trẻ em xảy ra trong thời gian qua. Theo quy định của điều luật này, thì hành vi dâm ô đối với trẻ em có thể được thực hiện qua việc dùng tay (hoặc bất cứ bộ phận nào của cơ thể) chạm, sờ, mó, hôn hít (kích thích) vào những nơi nhạy cảm về tình dục của trẻ em hoặc buộc trẻ em làm ngược lại đối với mình, dùng bộ phận sinh dục của mình chạm vào bộ phận sinh dục của trẻ em (trừ hành vi giao cấu). Tuy nhiên, nhiều trường hợp người phạm tội ép buộc trẻ em phải biểu diễn các hành vi khiêu dâm, đóng phim khiêu dâm hoặc buộc trẻ em phải xem những hình ảnh khiêu dâm... lại không bị xử lý hình sự do không có căn cứ pháp lý. Xuất phát từ thực tế đó, BLHS năm 2015 (sửa đồi, bổ sung năm 2017) quy định người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
        Thứ ba, bổ sung dấu hiệu định tội: “Thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác” trong cấu thành tội phạm của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144); Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145); Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146). Theo quy định của BLHS năm 1999 thì yếu tố bắt buộc để chứng minh một người phạm tội hiếp dâm trẻ em hoặc cưỡng dâm trẻ em hoặc giao cấu với trẻ em ở giai đoạn tội phạm hoàn thành là việc thực hiện hành vi “giao cấu” với nạn nhân. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự ở nước ta thời gian qua, hành vi “giao cấu” luôn được hiểu theo nghĩa truyền thống. Trong khi đó, thực tiễn đã phát sinh những trường hợp có hành vi quan hệ tình dục giữa người đồng tính, song tính, chuyển giới (LGBT) dẫn đến khó khăn trong thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự về tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em. Chính vì vậy, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung thêm dấu hiệu định tội thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trong cấu thành tội phạm của một số tội xâm phạm tình dục trẻ em.
        Thứ tư, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung một số dấu hiệu định khung như: “Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ...”, “Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh”, “Phạm tội có tổ chức”, “Làm nạn nhân tự sát” trong cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm tình dục trẻ em, đáp ứng thực tiễn công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em ở Việt Nam trong những năm qua.
        Thứ năm, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước trong việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải thể hiện tính khoan hồng và nhân đạo sâu sắc, với ý nghĩa đó, việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Xuất phát từ quan điểm, mục tiêu nêu trên tại Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
        “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
        2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134,  141,  142, 143,  144, 150, 151, 168, 169, 170, 171,173, 178, 248, 249, 250, 251, 252,  265, 266,  286, 287, 289, 290, 299, 303, 304 của Bộ luật này.”.
        Tương quan so sánh với BLHS năm 1999 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, BLHS năm 2015 đã thu hẹp đáng kể phạm vi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tình dục trẻ em của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Theo đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 142 (Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi) và Điều 144 (Tội cưỡng dâm người tử đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi). Theo quy định của BLHS năm 1999 thì người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện, bất kể tội phạm đó là tội phạm gì thuộc nhóm các tội xâm phạm tình dục trẻ em, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định theo hướng không xử lý về hình sự đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội xâm phạm tình dục trẻ em.
        Thứ sáu, về hình phạt, xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc lên án và xử lý đối với các hành vi phạm tội xâm phạm tình dục trẻ em, BLHS năm 2015 đã quy định chế tài xử lý đối với các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo hướng rất nghiêm khắc bao gồm tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình mà không có các chế tài không tước tự do như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ. Trong tổng số 24 khoản của các tội xâm phạm tình dục trẻ em, có 6 khoản quy định hình phạt bổ sung, có 02 khoản quy định  về  hình phạt tù chung thân, 01 khoản quy định hình phạt tử hình. Bên cạnh đó, để đảm bảo nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và đạt được các mục đích của hình phạt, tạo sự linh hoạt trong quyết định hình phạt đối với người phạm tội, đối với Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145), BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định thêm hình phạt bổ sung tại Khoản 4: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Ngoài ra, BLHS năm 2015 đã điều chỉnh hình phạt ở một số tội phạm cụ thể’. Cụ thể, đối với Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142) cùng với việc quy định hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi về cấu thành tội phạm cơ bản của tội này, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm mức hình phạt đối với hành vi phạm tội, khung hình phạt mới là từ 7 năm đến 15 năm.
        -----------------------
        Tài liệu tham khảo
        
1. Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử về tội hiếp dâm và một số tội phạm xâm phạm tình dục khác số 329/ HS2 ngày 11/5/1967 của Tòa án nhân dân tối cao.
        2. Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
        3. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
        4. Hoàng Minh Đức (2016), Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay và phương hướng hoàn thiện đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.
        5. Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
        6. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chinh trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Tác giả bài viết: Hoàng Minh Đức
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 110 tháng 11/2018
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 491/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt điều chỉnh chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất răn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050)

Ngày BH: (07/05/2018)

Số: 1250/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030)

Ngày BH: (31/07/2013)

Số: 582/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định về việc phê duyệt đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi ni lông khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020)

Ngày BH: (11/04/2013)

Số: 25/CT-TTg
Tên: (CHỈ THỊ VỀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CẤP BÁCH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG)

Ngày BH: (31/08/2016)

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (15/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (29/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (20/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (12/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (26/10/2017)