Rss Feed
Chào mừng kỷ niệm 38 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 – 20/11/2020)

Hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật phục vụ công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm

Đăng lúc: Thứ tư - 11/03/2020 23:41 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
Bài viết phản ánh tình hình và kết quả hoạt động hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật phục vụ công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm trong thời gian qua, nhận diện những hạn chế và đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới.
        Trong thời gian qua, Bộ Công an đã chủ động tham mưu Quốc hội, Chính phủ ban hành nhiều chính sách, pháp luật về phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm; thực hiện chương trình luật, pháp lệnh của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Công an đã chủ trì hoặc phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện và đề xuất ban hành nhiều văn bản pháp luật, từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý cho công tác bảo vệ môi trường và phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm. Đặc biệt, để phục vụ trực tiếp cho công tác phòng, chống tội phạm về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm, Bộ đã chỉ đạo xây dựng, trình Quốc hội thông qua 02 bộ luật, 02 luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua 01 pháp lệnh, trình Chính phủ ban hành 02 nghị định, Thủ tướng Chính phủ 01 chỉ thị, 02 quyết định; Bộ trưởng Bộ Công an ban hành 08 thông tư, 02 thông tư liên tịch quy định chi tiết hướng dẫn thi hành pháp luật hoặc chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường[1]. Bộ Công an đã phối hợp với các bộ, ngành và chỉ đạo lực lượng Cảnh sát (nòng cốt là Cảnh sát môi trường) hoàn thiện cơ chế phối hợp để tổ chức phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh xử lý có hiệu quả tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm; chỉ đạo lực lượng Cảnh sát xây dựng các quy chế phối hợp với lực lượng Kiểm lâm, Hải quan, Quản lý thị trường, Tổng cục môi trường, Tổng cục biển và hải đảo, Thanh tra Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục an toàn thực phẩm, Cục quản lý dược. Bộ Công an đã tham gia góp ý 300 lượt văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ môi trường và phòng ngừa, xử lý vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm; thường xuyên báo cáo giải trình, trả lời chất vấn, đề xuất Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, giám sát và quyết định nhiều nội dung, giải pháp về công tác bảo vệ môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm; tham gia có trách nhiệm các ủy ban, ban chỉ đạo, các đoàn khảo sát liên ngành của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành về công tác chấp hành pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm tại các tỉnh, thành phố... góp phần quan trọng tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Bộ Công an đã chỉ đạo lực lượng Công an toàn quốc, nòng cốt là lực lượng Cảnh sát môi trường tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả chỉ đạo của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm; trong hơn 10 năm qua lực lượng Cảnh sát môi trường đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng thuộc các bộ, ngành và địa phương tham mưu hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật; tổ chức kiểm tra, điều tra và xử lý trên 120.100 vụ vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm; chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp khởi tố trên 3.015 vụ với 4.050 đối tượng, xử phạt hành chính trên 1.510 tỷ đồng[2]. Đã tổ chức nhiều đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, đấu tranh với các vụ án lớn trên các tuyến, lĩnh vực, địa bàn trọng điểm, kịp thời giải quyết các điểm nóng về môi trường, góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cả nước. Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong Công an nhân dân với các lực lượng ngoài ngành như tài nguyên môi trường, kiểm lâm, quản lý thị trường, hải quan, thanh tra chuyên ngành... tổ chức hàng nghìn lượt thanh tra, kiểm tra, qua đó đã phát hiện, xử lý hàng chục nghìn trường hợp vi phạm pháp luật về môi trường và an toàn thực phẩm, truy thu thuế, phí bảo vệ môi trường, tịch thu hành hóa vi phạm, sung công quỹ hàng trăm tỷ đồng.
        Bên cạnh những kết quả đạt được như trên, trong hoạt động hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật phục vụ công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm còn có những bất cập nhất định, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, có những quy định chưa cụ thể, khó khả thi nhưng việc ban hành văn bản hướng dẫn còn chậm. Nguyên nhân chủ yếu là do việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật còn chậm, sự phối hợp giữa các bộ, ngành trong quá trình xây dựng pháp luật có lúc còn chưa chặt chẽ; đáng chú ý là trước khi Quốc hội ban hành Bộ luật hình sự 2015, Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định các tội danh về môi trường, nhưng do một số khái niệm quy định trong các điều luật chưa được giải thích cụ thể nên không áp dụng được trong thực tiễn công tác điều tra, xử lý tội phạm về môi trường; thực tế qua thời gian triển khai thi hành Bộ luật hình sự năm 1999, số vụ được củng cố, xử lý hình sự chủ yếu trong lĩnh vực động vật hoang dã hoặc hủy hoại rừng, chưa có vụ việc nào vê gây ô nhiễm môi trường bị khởi tố. Bộ luật hình sự 2015 đã được Quốc hội thông qua, tuy nhiên, một số tội phạm về môi trường trong Bộ luật quy định mức định lượng cao, khó áp dụng trong thực tiễn, gây khó khăn cho việc xử lý các hành vi vi phạm nghiêm trọng, có dấu hiệu tội phạm nhưng khó chứng minh cụ thể về hậu quả.
        Trong những năm tới, tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật về tài nguyên, môi trường, an toàn thực phẩm sẽ còn diễn biến phức tạp, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp, quản lý chất thải nguy hại, xuất nhập khẩu, môi trường biển đảo, môi trường y tế, an toàn thực phẩm, khai thác tài nguyên khoáng sản, lâm sản và động vật hoang dã, quý, hiếm; việc phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu du lịch ven biển tiềm ẩn những nguy cơ không nhỏ gây ra các sự cố môi trường nếu không thực hiện tốt công tác phòng ngừa, giám sát việc xử lý chất thải; một số dự án đầu tư nước ngoài có thể lợi dụng để chuyển giao công nghệ cũ gây tác động xấu tới môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên, như trong lĩnh vực dệt nhuộm, giấy, hóa chất, sắt thép... Bên cạnh đó, quá trình triển khai các hiệp định thương mại tự do cũng đồng thời tạo ra những thách thức không nhỏ trong kiểm soát chất lượng hàng hóa, nguy cơ thẩm lậu hàng hóa thực phẩm kém chất lượng vào nước ta.
        Để nâng cao hiệu quả hoạt động hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật phục vụ công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm, trong thời gian tới cần thực hiện các nội dung sau:
        Một là, triển khai và giám sát thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, Quốc hội, Chính phủ về bảo vệ tài nguyên và môi trường, nhất là Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn 2030, Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31 tháng 8 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 30 tháng 3 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường hiệu lực thực thi chính sách, pháp luật về khoáng sản, gắn với trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, ngành.
        Hai là, rà soát, đề xuất các cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm phù hợp với thực tế và đồng bộ với hệ thống pháp luật khác có liên quan; trọng tâm là Luật Bảo vệ môi trường, Bộ luật T ố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính; xây dựng, hoàn thiện, đồng bộ các nghị định, thông tư, thông tư liên tịch có liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm.
        Ba là, thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm và các nhiệm vụ, mục tiêu, yêu cầu trong định hướng phát triển bền vững Việt Nam; lực lượng Công an nhân dân (nòng cốt là lực lượng Cảnh sát môi trường) nắm chắc tình hình các tuyến, địa bàn, lĩnh vực trọng điểm tổ chức đấu tranh phòng, chống có hiệu quả với tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tư pháp Trung ương và địa phương tăng cường công tác điều tra, truy tố, xét xử nghiêm theo quy định của pháp luật các tội phạm về môi trường; phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn... tổng rà soát các dự án, cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, các trọng điểm về khai thác trái phép tài nguyên rừng, khoáng sản; các cơ sở vi phạm pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm để có phương án, kế hoạch xử lý cụ thể, phù hợp đối với từng cơ sở, dự án.
        Bốn là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm soát đảm bảo việc tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường đối với những dự án đã đi vào hoạt động, tập trung vào các dự án có nguồn thải ra sông, ra biển; tăng cường các biện pháp kiểm soát chặt chẽ việc thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế chất thải; buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã quý, hiếm; vi phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm; hướng đến xử lý dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, các tụ điểm khai thác khoáng sản trái phép; xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường với lực lượng Cảnh sát môi trường các cấp đảm bảo công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm có hiệu quả.
        Năm là, kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của lực lượng Cảnh sát môi trường theo hướng tinh gọn, hiệu quả, đồng bộ giữa các mặt công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm. Trong đó cần thực hiện tốt chủ trương tăng cường toàn diện cho Công an cấp huyện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, đảm bảo công tác phòng, chống tội phạm về môi trường có hiệu quả ngay từ địa bàn cơ sở; xây dựng và triển khai các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ và kiến thức chuyên môn về lĩnh vực môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm cho cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát môi trường; sử dụng hợp lý, hiệu quả cơ sở hạ tầng và đầu tư mua sắm các trang thiết bị kiểm định, thiết bị nghiệp vụ, chuyên dùng theo hướng hiện đại phù hợp với đặc điểm, tính chất công tác của lực lượng Cảnh sát môi trường. Đồng thời, quản lý sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường hàng năm và kinh phí thường xuyên phục vụ công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về tài nguyên, an toàn thực phẩm.
        ------------------------
        Tài liệu tham khảo
       [1]  Bộ Công an (2018), Kỷ yếu Hội thảo tuyên truyền pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm của Tổng cục Cảnh sát, Bình Dương.
       2. Bộ Công an (2016), Tài liệu Hội nghị tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm, Hà Nội.
        3. Bộ Công an (2013), Chỉ thị số 02/ CT-BCA-C41 ngày 01/4/2013 về việc tập trung chấn chỉnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong tình hình mới.
        4. Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
        5. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
       6. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2014), Pháp lệnh số 10/2014/UBTVQH13 ban hành ngày 23/12/2014.
 

[1] Bộ Công an, Tài liệu Hội nghị tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm- Hà Nội, tháng 11/2016, tr.6.
[2] Tổng cục Cảnh sát, Kỷ yếu Hội thảo tuyên truyền pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm của Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an- Bình Dương, tháng 5/2018, tr.3.
 
Trần Đức Trung – Trường Đại học CSND
Lê Hoàng Phúc - Công an Quận 5, TP.HCM

*
Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 119
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc