Rss Feed
Mừng Đảng, mừng xuân Tân Sửu 2021

Trao đổi một số vấn đề về chức danh giảng dạy đại học

Đăng lúc: Thứ ba - 02/08/2016 10:00 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
       1. Ngày 15/2/2010, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư số 09/2010/TT- BCA quy định tiêu chuẩn, quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh giảng dạy, huấn luyện trong lực lượng Công an nhân dân (CAND). Một cách khái quát, nội dung Thông tư này quy định các vấn đề thuộc về chức danh giảng dạy trong lực lượng CAND. Trước yêu cầu ban hành văn bản mới thay thế Thông tư số 09/2010/TT-BCA, Cục Đào tạo (X14) đã soạn thảo Dự thảo Thông tư quy định tiêu chuẩn, quy trình bổ nhiệm, bãi nhiệm các chức danh giảng dạy ở các học viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp trong CAND (sau đây gọi tắt là Dự thảo). Văn bản Dự thảo vẫn cơ bản giữ nguyên phạm vi đối tượng điều chỉnh và kế thừa nhiều nội dung của Thông tư số 09/2010/TT-BCA, đồng thời bổ sung nhiều  điểm  mới. Tuy  nhiên, việc X14 vận dụng một số quy định của Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT- BNV ngày 28/11/2014 quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập đưa vào Dự thảo, theo chúng tôi là không phù hợp, vì hai lý do: Thứ nhất, Thông tư liên tịch số 36/2014/ TTLT-BGDĐT-BNV quy định về xếp hạng chức danh nghề nghiệp chứ không phải quy định về hệ thống chức danh giảng viên; thứ hai, Những quy định trong thông tư liên tịch này chỉ áp dụng đối với viên chức làm công tác giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Những gì liên quan đến lý do thứ nhất cho thấy cần làm rõ, phân biệt hệ thống chức danh của giảng viên và hạng chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy đại học, trên cơ sở các quy định hiện hành của Nhà nước.
       - Về hệ thống chức danh của giảng viên:
      + Khoản 2 Điều 54 Luật Giáo dục đại học năm 2012 quy định: “Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư”.
       +  Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 141/2013/NĐ-CP  ngày  24/10/2013  của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục đại học quy định: “Thang, bậc lương đối với giảng viên được quy định cụ thể, có sự phân biệt khác nhau giữa năm chức danh: Trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư theo quy định của Luật giáo dục đại học.”
       +  Khoản 1 Điều 44 Quyết định  số 70/2014/QĐ-TTg  ngày  10/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Điều lệ trường đại học quy định: “Giảng viên của trường đại học được quy định tại Điều 54 của Luật Giáo dục đại học”. Nội dung này cũng được thể hiện trong Điều lệ trường cao đẳng, ban hành theo Thông tư số 01/2015-TT ngày 15/1/2015 của Chính phủ.
       Như vậy, theo quy định hiện hành, hệ thống chức danh giảng dạy đại học ở nước ta gồm: Trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư (05 chức danh). Hệ thống này về cơ bản tương đồng với hệ thống chức danh một số nước trên thế giới (ví dụ ở Mỹ gồm có Instructor (Trợ giáo), Assistant Professor (Trợ giảng), Asssociate  Professor  (Phó giáo sư) và Professor (Giáo sư).
       - Về hạng chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy đại học (trước đây gọi là ngạch công chức giảng dạy hoặc ngạch chức danh giảng dạy):
       + Quyết định số 202/TCCP-VC ngày 08/6/1994 của Bộ trưởng, Trưởng ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành giáo dục và đào tạo, quy định có 3 ngạch gồm: Giảng viên, giảng viên chính - phó giáo sư, giáo sư.
       + Quyết định số 538/TCCB-TC ngày 18/12/1995 của Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ về việc thay đổi tên gọi các ngạch công chức giảng dạy và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch trong trường đại học, cao đẳng, quy định như sau: Ngạch giảng viên thành Giảng viên (mã số 15.111); ngạch giảng viên chính - phó giáo sư thành Giảng viên chính (mã số 15.110); ngạch giáo sư thành Giảng viên cao cấp (mã số 15.109).
       +  Danh mục các ngạch công chức và ngạch viên chức ban hành kèm theo Quyết định số 78/2004/QĐ-BNV ngày 03/11/2004  của  Bộ  trưởng  Bộ Nội vụ xác định 3 ngạch chức danh giảng viên: Giảng viên (mã số 15.111); phó giáo sư - giảng viên chính (mã số 15.110); và giáo sư - giảng viên cao cấp (mã số 15.109).
       Bảng hệ số lương kèm theo Nghị định số 204/2004 ngày 24/12/2004 của Chính phủ cũng xác định: Hệ số lương của giáo sư - giảng viên cao cấp từ 6.2 đến 8.0; hệ số lương của phó giáo sư - giảng viên chính từ 4.4 đến 6.44; hệ số lương của giảng viên từ 2.34 đến 4.98.
       + Điều 2 Thông tư liên tịch số 36/2014/ TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28/11/2014 của Bộ Giáo dục đào tạo và Bộ nội vụ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập (Mã số và phân hạng chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập), quy định chức danh nghề nghiệp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập bao gồm: Giảng viên cao cấp (hạng I), mã số: V.07.01.01; giảng viên chính (hạng II), mã số: V.07.01.02; giảng viên (hạng III), mã số: V.07.01.03.
       Như vậy, hạng chức danh nghề nghiệp như  tên  gọi  tại  Thông tư  liên  tịch  số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV không phải là chức danh giảng dạy đại học mà thực chất là sự xếp hạng các chức danh giảng viên (thuộc hệ thống chức danh giảng viên đại học) thành 3 nhóm, trong đó mỗi nhóm gồm một hoặc một số chức danh. Việc phân chia hạng (ngạch) chức danh đã được quy định từ lâu trong các văn bản quy phạm pháp luật. Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV chỉ là văn bản sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định trước đây về vấn đề này mà thôi.
       Các quy định trên cho thấy, hệ thống chức danh giảng viên và hạng chức danh nghề nghiệp giảng dạy là hai khái niệm khác nhau. Hệ thống chức danh giảng viên làm cơ sở xếp hạng chức danh nghề nghiệp giảng dạy, như quy định tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 141/2013/NĐ-CP Ngày 24/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục đại học: “Hệ thống chức danh và tiêu chuẩn chức danh giảng viên được làm căn cứ để xếp hạng chức danh nghề nghiệp và thực hiện các chế độ chính sách đối với giảng viên trong các cơ sở giáo dục đại học”. Điều này được khẳng định theo nội dung Thông tư liên tịch số 28/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 06/11/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ, hướng dẫn thực hiện bổ nhiệm và xếp lương chức danh nghề nghiệp đối với viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập.
       Những gì đã trình bày ở trên cũng đặt ra vấn đề cần xác định các chức danh giảng dạy được xếp hạng chức danh giảng dạy như thế nào? Chúng tôi cho rằng: Căn cứ Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 141/2013/ NĐ-CP ngày 24/10/2013 của Chính phủ, Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT- BGDĐT-BNV và Thông tư liên tịch số   28/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 06/11/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ thì chức danh giáo sư, phó giáo sư được xếp hạng Giảng viên cao cấp (hạng I). Căn cứ các quy định cụ thể (nhất là các quy định tại Chương II) của Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT- BNV và Thông tư liên tịch số 28/2015/ TTLT-BGDĐT-BNV ngày 06/11/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ thì chức danh giảng viên chính được xếp hạng Giảng viên chính (hạng II) và các chức danh giảng viên, trợ giảng được xếp hạng Giảng viên (hạng III).
      2. Qua phân tích như trên ta thấy, đối tượng điều chỉnh cụ thể của Thông tư số 09/2010/TT-BCA là hệ thống chức danh giảng viên (và giáo viên trung cấp), chứ không phải là hạng chức danh nghề nghiệp. Vì vậy, để văn bản mới đáp ứng yêu cầu có căn cứ, chuẩn xác hơn về nội dung và có ý nghĩa thực tiễn, chúng tôi cho rằng dự thảo cần được chỉnh lý theo hướng:
       - Kế thừa hoặc giữ nguyên phạm vi đối tượng điều chỉnh của Thông tư số 09/2010/TT-BCA. Cần căn cứ vào Luật giáo dục đại học, Nghị định số 141/2013/ NĐ-CP và các văn bản đã nêu trên của Bộ Giáo dục và Đào tạo để giải quyết các nội dung sau liên quan đến chức danh giảng viên đại học (riêng bậc trung cấp xin không có ý kiến).
       - Cần khẳng định các chức danh giảng viên bậc đại học trong các học viện, trường đại học, cao đẳng Công an nhân dân (CAND) gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư (như Thông tư số 09/2010/TT-BCA trước đây đã quy định rất chính xác).
       - Tập trung giải quyết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bổ nhiệm các chức danh trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính (các chức danh giáo sư, phó giáo sư thực hiện theo các quy định hiện hành của Nhà nước). Đồng thời, cần sửa đổi, bổ sung một số tiêu chí của các chức danh trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính mà nội dung quy định tại Thông tư số 09/2010/TT-BCA không còn phù hợp (nhất là các tiêu chí về trình độ ngoại ngữ, lý luận chính trị…).
       - Thống nhất bổ sung quy định về điểm công trình khoa học, bao gồm các công trình khoa học tương ứng với quy định ở các văn bản về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét công nhận đạt chuẩn giáo sư, phó giáo sư (ví dụ Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-BGDĐT ngày 03/01/2014 về Thông tư Quy định chi tiết việc xét công nhận, hủy bỏ công nhận đạt tiêu chuẩn, bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư). Một số công trình khoa học quy định cho giáo sư, phó giáo sư mà các chức danh trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính không có, có thể thay bằng các hoạt động khác với khung điểm tương tự. Và một vấn đề có tính logic, theo chúng tôi là tổng điểm tối thiểu quy đổi để được xét giảng viên, giảng viên chính phải thấp hơn đối với phó giáo sư (6 điểm).
       - Về quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh giảng dạy đại học, chúng tôi đề nghị phân cấp cụ thể: Các học viện, trường đại học, cao đẳng CAND được bổ nhiệm chức danh giảng viên chính (riêng trợ giảng, giảng viên thực hiện như quy định hiện nay và đối với giáo sư, phó giáo sư thì các học viện, trường Đại học CAND chỉ thực hiện sau khi có quyết định công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh của Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước theo quy định hiện hành).
       - Về vấn đề miễn nhiệm chức danh giảng dạy, theo chúng tôi nên áp dụng chung như đối với giáo sư, phó giáo sư, tức là: Những người đã bị hủy bỏ công nhận đạt tiêu chuẩn, bị tước bỏ chức danh thì đương nhiên miễn nhiệm; những người đã được bổ nhiệm nhưng không hoàn thành nhiệm vụ theo quy định thì bị miễn nhiệm. Còn những người đã có chức danh (không thuộc diện trên) nếu chuyển công tác trong hoặc ngoài trường thì vẫn được giữ chức danh đã bổ nhiệm để có thể huy động họ tham gia giảng dạy hoặc thuận lợi cho trường hợp điều động trở lại làm giảng dạy.
       - Về hình thức văn bản, theo tôi, nếu xử lý theo hướng này, thì chỉ cần ghi là “Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 09/2010/TT-BCA…”. Dung lượng văn bản vì vậy sẽ rất ngắn, không quá dài như Dự thảo vừa rồi.
       3.  Đối với Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV, như trên đã nêu, không nên sử dụng trực tiếp vào việc xây dựng văn bản mới này. Tuy nhiên, nếu cần vận dụng quy định về xếp hạng (ngạch) chức danh  nghề nghiệp theo tinh thần Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV và Thông tư liên tịch số 28/2015/TTLT-BGDĐT- BNV thì có thể ra một văn bản riêng hoặc có thể ghép một số nội dung vào Dự thảo để giải quyết các vấn đề về chính sách (Ví dụ: quy định khung cấp bậc hàm (hệ số lương) cho các chức danh; vấn đề thăng cấp, nâng lương tương ứng với hệ số lương hạng chức danh nghề nghiệp của viên chức giảng dạy và các quy định của  Nhà  nước;  hoặc  thăng  cấp, nâng lương trước thời hạn đối với giảng viên đạt chuẩn chức danh cao hơn…).
Tác giả bài viết: PGS, TS. Trần Quang Thông - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Cảnh sát nhân dân
Nguồn tin: Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 74 (tháng 4/2016)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 3 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc