Rss Feed

Nâng cao động cơ học tập môn tiếng Anh cho sinh viên Trường Đại học Cảnh sát nhân dân từ chính sở trường của người học

Đăng lúc: Thứ hai - 06/01/2020 03:06 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
Trong quá trình giảng dạy tiếng Anh tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, một trong những khó khăn lớn nhất chính là thực trạng nhiều sinh viên thiếu động cơ học tập và nâng cao kỹ năng sử dụng ngoại ngữ nói chung, tiếng Anh nói riêng. Làm cách nào để tạo thêm động lực cho người học, đó là điều mà người dạy cần lưu tâm và thực hiện. Quá trình thực hiện điều này, đôi khi người dạy sẽ gặp một số vấn đề trong việc nắm điểm mạnh, điểm yếu và điều mà đa số người học có nhu cầu hay yêu thích.
        Động cơ thúc đẩy là một khái niệm trừu tượng và mang tính lý thuyết, dùng để giải thích tại sao con người suy nghĩ, cư xử như họ đang làm. Dựa trên mỗi tình huống khác nhau, con người sẽ đưa ra định nghĩa cho động cơ thúc đẩy. Tạo động cơ thúc đẩy là vấn đề phức tạp và là thách thức đối với người dạy nói chung, giảng viên Ngoại Ngữ Trường Đại học CSND nói riêng. Để tạo ra động cơ thúc đẩy người học, người dạy cần phải hiểu rõ người học, tìm ra lý do tại sao người học lại thiếu động cơ học tập để đưa ra giải pháp đúng đắn. Muốn vậy, người thầy cần nắm bắt sở trường, sở đoản, hay sở thích của người học. Người học khi được người thầy hiểu về mình sẽ cảm thấy bản thân được chú ý và có động lực học tập hơn, bài giảng của thầy khi đó cũng lôi cuốn được người học.
        Theo thuyết Đa thông minh của Gardner, Sở trường (Intelligence) là khả năng giải quyết vấn đề, là khả năng tạo ra các sản phẩm có giá trị trong một hay nhiều hoàn cảnh. Mỗi cá nhân đều đạt đến một mức độ nào đó ở một lĩnh vực trong hệ thống các dạng thông minh. Mức độ này thấp hay cao thể hiện điểm mạnh, điểm yếu của mỗi cá nhân trong từng lĩnh vực.
        Cũng theo thuyết Đa thông minh của Gardner có 8 loại Sở trường được tìm thấy từ người học, đó là (1)Sở trường logic - toán học, (2)Sở trường từ vựng - ngôn ngữ, (3)Sở trường thị giác - không gian, (4)Sở trường cơ thể, (5)Sở trường âm nhạc, (6)Sở trường nội tâm, (7)Sở trường tương tác, (8)Sở trường thiên nhiên. [1]
        Để phục vụ công tác giảng dạy, tác giả đã tiến hành khảo sát 100 sinh viên D26S hệ chính quy Trường Đại học CSND, cho thấy dạng Sở trường chủ yếu của người học là Sở trường logic – toán học, Sở trường tự nhiên và Sở trường từ vựng - ngôn ngữ. Cụ thể là hơn 75% trên tổng số sinh viên được khảo sát rất hứng thú trong khi làm việc và giải trí với trò chơi ô chữ; các trò Thử thách trí thông minh cũng như khi tìm ra nguyên nhân và hệ quả, hành động và kết quả. Điều này cho thấy rằng hầu hết người học đều có thế mạnh về tư duy logic và toán học (Logical-Mathematical Intelligence). Ngoài ra, hơn 80% người học rất thích tìm hiểu về tự nhiên và có năng khiếu nhận diện, phân loại, xếp hạng các loại đối tượng, thông tin. Từ đó, đưa ra nhận định những sinh viên này có ưu thế về học các kiến thức tự nhiên (Naturalist Intelligence). Thêm nữa, bảng thống kê chỉ ra rằng hầu hết người học đều giỏi về từ vựng và ngôn ngữ (Linguistic Intelligence). Cụ thể là 80% người tham gia khảo sát yêu thích được kể chuyện, thích được tham gia vào các cuộc đàm thoại cũng như các cuộc thảo luận, có 86% người thấy dễ dàng trong việc truyền đạt những ý nghĩ hay ý kiến của họ khi viết.
        Ngoài ra, bảng thống kê còn giúp người dạy nhận ra những điều mà người học không thích. Hầu hết người học không thích chơi nhạc. Hơn một nửa số người khảo sát không có năng khiếu về cảm nhận trọng âm, âm tiết, nhịp điệu trong sinh hoạt và câu nói; chỉ 1/5 người học thích được làm hình mẫu và hình ảnh 3D.
        Từ thực tế giảng dạy và kết quả khảo sát, với mong muốn giúp học viên của Trường có thêm động lực thúc đẩy học tập tiếng Anh từ chính sở thích, sở trường của bản thân, tác giả có một số đề xuất như sau:
        Đối với giáo viên: Từ việc tìm hiểu về sở trường, sở đoản và sở thích của người học, giáo viên có thể làm tăng cao động lực học tập trong lớp. Thứ nhất, người dạy dựa vào sở thích của học viên để thiết kế các hoạt động trong lớp phù hợp. Trong trường hợp người học có ưu thế về tư duy logic, ngôn ngữ và tự nhiên, các hoạt động dạy học phù hợp là: (1) Sơ đồ hóa bài giảng cũng như kiến thức trên lớp, vì nhìn vào sơ đồ sẽ giúp các sinh viên có tư duy logic nhớ lâu hơn; (2) Thiết kế các hoạt động có đưa ra sơ đồ, biểu đồ, bảng thống kê để yêu cầu người học phân tích, tổng hợp, đánh giá, hoạt động này sẽ gây hứng thú cho họ; (3) Sử dụng bản đồ tư duy khi giảng, cũng như hướng dẫn người học lập bản đồ tư duy trước khi nói hoặc viết. Hoạt động này sẽ giúp người học phát huy được lối suy nghĩ logic, tổng hợp cao; (4) Tổ chức các hoạt động kể chuyện, thảo luận nhóm, buổi tranh luận để tạo cơ hội cho các học viên rèn luyện, nâng cao năng lực từ chính sở thích của mình.
        Ngoài ra, giáo viên cũng cần đưa vào bài giảng những tình huống thực tế để người học có cơ hội rèn luyện, phát triển tốt nhất thế mạnh của họ, đó là khả năng phân tích, đánh giá, phân loại và đặc biệt là giải quyết tình huống. Giáo viên đưa ra vấn đề, hay tình huống cần giải quyết, và học viên vận dụng tiếng Anh, kiến thức đã biết và đã học để xử lý tình huống được đặt ra.
        Thêm nữa, lời giảng và dẫn dắt của người dạy cũng sẽ gây hứng thú cho người học nếu đề cập đến những vấn đề cần tư luy logic hay vận dụng kiến thức tự nhiên để lĩnh hội kiến thức. Người dạy có thể tạo hứng thú cho người học từ việc hướng dẫn họ cách học và ôn tập từ vựng, cấu trúc bằng tư duy logic, có tổ chức như khuyến khích họ học từ vựng cấu trúc theo ý nghĩa nguyên nhân, hệ quả; sử dụng sơ đồ, biểu đồ, bản đồ; hay giải quyết vấn đề theo hành động và kết quả.
        Cuối cùng, việc hiểu về ưu thế, sở trường của người học sẽ giúp người dạy gần gũi hơn với sinh viên. Việc thiết kế bài giảng, các hoạt động trong lớp và lời hướng dẫn của giáo viên cũng phù hợp, dễ hiểu hơn. Tất cả đều nhằm tạo thêm hứng thú, động lực cho người học.       
        Đối với học viên: động lực học tập xuất phát rất nhiều từ ý thức của học viên. Mỗi học viên phải có ý muốn tự tạo cho mình động cơ học tiếng Anh tốt thì những cố gắng của giáo viên mới phù hợp với nguyện vọng của người học. Biểu hiện của người học có thể được nhận ra rất rõ ràng qua các hành động như: nghe giảng chăm chú trên lớp, làm bài tập đầy đủ, tham gia đóng góp xây dụng bài tích cực, không sợ sai, luôn mang tinh thần học hỏi, muốn tự nâng cao kiến thức và rèn luyện bản thân.
        Đối với Bộ môn Ngoại ngữ: Bộ môn Ngoại ngữ nên duy trì việc tổ chức thi Sinh viên giỏi và các hoạt động ngoại khóa nhằm giúp sinh viên có điều kiện nâng cao kiến thức, có thêm cơ hội rèn luyện một số kỹ năng mềm, kỹ năng giao tiếp. Ngoài ra, Bộ môn có thể tổ chức các buổi tự trao đổi kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy để hiểu thêm về sinh viên, cập nhật những kiến thức mới, làm sinh động và đa dạng hơn cho tiết giảng của mình.
Tác giả hy vọng, việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ tạo thêm niềm vui, động lực cho việc học ngoại ngữ của sinh viên Trường Đại học CSND./.

 

[1] Gardner, H. (1983). Frames of Mind: The theory of multiple intelligences. New York: Basic Books

Tác giả bài viết: Đào Thị Lê Mai - Lương Duy Thanh
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: Số 52-NQ/TW
Tên: (Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư)

Ngày BH: (26/09/2019)

Số: Số 3304/LĐTBXH-BGĐ
Tên: (V/v hướng dẫn triển khai Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới năm 2019)

Ngày BH: (05/08/2019)

Số: Kế hoạch Bộ Y tế
Tên: (Tổ chức Tháng Hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2019 (kèm theo Công văn số 5930/BYT-UBQG50))

Ngày BH: (07/10/2019)

Số: 08/CT-BYT
Tên: (Chỉ thị về giảm thiểu chất thải nhựa trong ngành Y tế)

Ngày BH: (28/07/2019)

Số: 582/QĐ-TTg
Tên: (Về việc phê duyệt Đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi ni lông khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020)

Ngày BH: (10/04/2013)

Số: 01/QĐ-BCĐTW
Tên: (QUYẾT ĐỊNH VỀ VIỆC BAN HÀNH PHƯƠNG ÁN TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở NĂM 2019)

Ngày BH: (14/08/2018)

Số: 772/QĐ-TTg
Tên: (QUYẾT ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở NĂM 2019)

Ngày BH: (25/06/2018)

Số: 491/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt điều chỉnh chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất răn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050)

Ngày BH: (06/05/2018)

Số: 1250/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030)

Ngày BH: (30/07/2013)

Số: 582/QĐ-TTg
Tên: (Quyết định về việc phê duyệt đề án tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do sử dụng túi ni lông khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020)

Ngày BH: (10/04/2013)