Rss Feed
Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh
Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật
Bông Hồng Xanh
tap chi

Thống kê

  • Đang truy cập: 35
  • Hôm nay: 4378
  • Tháng hiện tại: 148790
  • Tổng lượt truy cập: 3174792

Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy môn thống kê xã hội học gắn với hoạt động sinh viên nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Đăng lúc: Chủ nhật - 01/04/2018 20:50 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
       1.Đặt vấn đề
        Trong những năm qua được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, công tác nghiên cứu khoa học nói chung và hoạt động sinh viên nghiên cứu khoa học nói riêng ngày càng thu hút sự quan tâm của sinh viên, có sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Hoạt động sinh viên nghiên cứu khoa học đã góp phần phát huy tinh thần tự học, tự nghiên cứu, vận dụng kiến thức đã học và thực tiễn hoạt động nghiên cứu khoa học. Trong 5 năm qua tính từ năm học 2011 - 2012 đến năm học 2016 - 2017, đã có tổng cộng 2.685 lượt sinh viên đăng ký tham gia nghiên cứu khoa học với 694 đề tài khoa học được giao. Phong trào sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học không chỉ được duy trì về số lượng qua các năm mà còn nâng cao hơn về chất lượng, trong số 694 đề tài sinh viên được giao nghiên cứu có 155 giải nhất chiếm 22,3%, 460 giải nhì chiếm 66,3% và 78 giải ba chiếm 11,2%1. Trong chương trình giảng dạy một trong những môn học được sinh viên vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn hoạt động nghiên cứu khoa học, đó là môn Thống kê xã hội học.
        Thống kê xã hội học là ‘‘khoa học về các phương pháp thu thập, tổ chức, trình bày, phân tích và xử lý số liệu từ đó tìm ra bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế, xã hội- tự nhiên’[1] [2]. Thống kê xã hội học có ‘‘vai trò giúp cho sinh viên nắm và sử dụng các phương pháp nghiên cứu về mẫu, các phương pháp xác định các giá trị thống kê, phương pháp kiểm định giả thiết, phương pháp đánh giá mối quan hệ tương quan giữa các hiện tượng’’[3]. Bởi vì Thống kê xã hội học cho phép người nghiên cứu biết được hiện tượng đó như thế nào trong quá khứ, hiện tại và xu hướng biến động của hiện tượng đó trong tương lai. Qua đó, môn học này giúp sinh viên “biết cách trình bày các số liệu thống kê; biết sử dụng các công thức tính xác suất; nắm được các qui tắc kiểm định và ứng dụng; biết phân tích trên các số liệu đã thu thập để đưa ra dự báo; nắm được các nội dung và các giai đoạn nghiên cứu của thống kê tư pháp và ứng dụng trong công tác ngành Công an”[4]. Thống kê xã hội học giúp cho sinh viên đánh giá đúng mặt lượng trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt chất của hiện tượng xã hội; giúp cho sinh viên rèn luyện kỹ năng phân tích, xem xét, dự đoán tình hình trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể của đối tượng, vấn đề đang nghiên cứu, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp, hiệu quả để giải quyết một cách đúng đắn thực trạng đang diễn ra của vấn đề. Ngoài ra, việc áp dụng Thống kê xã hội học vào công tác nghiên cứu khoa học giúp cho đề tài được khách quan và thiết thực hơn thông qua các dẫn chứng cụ thể, các con số sinh động phản ánh đúng thực tiễn.
        Qua phân tích 70 đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học trong thời gian qua cho thấy sinh viên đã ứng dụng kiến thức Thống kê xã hội học phục vụ cho hoạt động thu thập, xử lý, phân tích và biểu diễn số liệu trong các đề tài nghiên cứu khoa học. Cụ thể là trong thu thập xử lý, phân tích số liệu hầu khắp các đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp tọa đàm trao đổi, lấy ý kiến chuyên gia. Bên cạnh đó có 22 đề tài sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 31,4% và 5 đề tài sinh viên còn áp dụng phương pháp trắc nghiệm kết hợp điều tra xã hội học, chiếm 8,5%. Trong xử lý số liệu hầu hết sinh viên đều tính toán và xử lý số liệu bằng Excel; phân tích số liệu sinh viên chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích số liệu để mô tả đặc điểm, cấu trúc của vấn đề nghiên cứu. Trong biểu diễn số liệu phần lớn sinh viên chọn các loại biểu đồ như: Biểu đồ tròn 20%, biểu đồ cột 13%, biểu đồ đường 24%, biểu đồ quạt 19%, biểu đồ miền 6%. Các loại biểu đồ này được sử dụng thường xuyên và phổ biến không chỉ bởi tính đơn giản, dễ thực hiện, mà việc thể hiện số liệu bằng các loại biểu đồ này giúp người nghiên cứu và người đọc dễ đánh giá, nhìn nhận được vấn đề. Bên cạnh đó, sinh viên cũng áp dụng kết hợp nhiều biểu đồ làm cho đề tài thêm phong phú và phù hợp với yêu cầu của vấn đề cần nghiên cứu.
        2.Những hạn chế, vướng mắc của hoạt động đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy môn Thống kê xã hội học phục vụ công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên
        Với những kết quả đạt được như trên, tuy nhiên qua thực tế công tác giảng dạy và khảo sát đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học, chúng tôi nhận thấy trong hoạt động đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy môn Thống kê xã hội học gắn với hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên còn có những hạn chế, vướng mắc sau:
        Một là, đối với chương trình đào tạo và nội dung giảng dạy: Chương trình đào tạo tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đang trong giai đoạn “chuyển đổi” về hình thức từ đào tạo theo niên chế sang hình thức đào tạo theo tín chỉ. Đối với hình thức đào tạo theo niên chế được áp dụng thời gian qua, thời lượng của môn Thống kê xã hội học không nhiều với 45 tiết tương đương 3 đơn vị học trình. Với những kiến thức tương đối khó của môn học nên thời lượng như trên, giảng viên chủ yếu chỉ trình bày và giúp sinh viên nắm kiến thức môn học, không còn thời gian để giúp sinh viên có thể vận dụng trong hoạt động nghiên cứu khoa học.
        Hai là, nội dung môn Thống kê xã hội học chủ yếu là về lý luận thống kê nói chung, chưa chú trọng đến việc ứng dụng đối với thực tiễn công tác của lực lượng Cảnh sát nhân dân và công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên. Việc học thống kê xã hội học của sinh viên vì thế thường chỉ là đối phó để qua môn chứ không vận dụng được vào hoạt động nghiên cứu khoa học.
        Ba là, đối với phương pháp giảng dạy của giảng viên: Hiện nay, quá trình giảng dạy môn Thống kê xã hội học, giảng viên Bộ môn Toán - Tin học cũng đã kết hợp việc dạy lí thuyết cho sinh viên với việc thực hành các bài tập có nội dung gắn với thực tiễn của lực lượng Cảnh sát nhân dân. Tuy nhiên, với phương pháp này thì cũng chỉ giúp sinh viên làm được những bài tập có đáp ứng mục tiêu cơ bản của môn học và giúp sinh viên thấy được ứng dụng của Thống kê đối với thực tiễn nghề nghiệp nhưng lại chưa tạo được cho sinh viên thói quen tự tìm tòi thông tin, tài liệu để thống kê, chưa áp dụng thống kê vào hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học của bản thân. Do đó, yêu cầu trong thời gian tới, phương pháp giảng dạy đối với môn học này cần được đổi mới để có thể giúp sinh viên vận dụng được thống kê và hoạt động học tập, trong đó có nghiên cứu khoa học.
        Bốn là, đối với sinh viên trong học tập và hoạt động ứng dụng Thống kê xã hội học phục vụ thu thập, xử lý, phân tích và biểu diễn số liệu trong nghiên cứu khoa học cho thấy mặc dù đa phần sinh viên đều ứng dụng được một số nội dung Thống kê xã hội học phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, tuy nhiên hiện nay, sinh viên vẫn còn chưa nắm vững nội dung cũng như cách thức ứng dụng Thống kê xã hội học phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, dẫn đến áp dụng không hiệu quả hoặc chỉ được áp dụng với mục đích thu thập và phân tích số liệu thô, chưa rút ra được những thông tin hữu ích từ dữ liệu. Sinh viên sử dụng Thống kê xã hội học chủ yếu để làm phong phú hình thức nghiên cứu mà chưa vận dụng sâu sắc để phản ánh chính xác bản chất của vấn đề cần nghiên cứu. Ngoài ra, còn có tình trạng khai khống số liệu, dẫn đến chất lượng đề tài chưa phản ánh được đầy đủ những thông tin cần thiết.
        Những hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, nhưng chủ yếu là do Chương trình đào tạo có tính ổn định chưa cao, đang trong giai đoạn chuyển đổi về thời gian và hình thức đào tạo; một số giảng viên chưa chú trọng đến hoạt động đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy nói chung và gắn với hoạt động sinh viên nghiên cứu khoa học nói riêng của môn Thống kê xã hội học; kiến thức nền tảng về Toán học nói chung và Thống kê xã hội học nói riêng của sinh viên khác nhau, sinh viên lại chủ yếu học tập các môn xã hội nên chưa quen với lối tư duy logic, phân tích số liệu trong nghiên cứu; một số sinh viên chưa xác định mục tiêu, yêu cầu học tập và việc vận dụng kiến thức đã học vào hoạt động nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện đề tài khoa học, sinh viên thường chỉ chú trong về phương pháp tiến hành mà không đặt nặng vấn đề kết quả nghiên cứu nên hoạt động vận dụng kiến thức Thống kê xã hội học trong thu thập, xử lý và phân tích số liệu chưa được sinh viên quan tâm.
        3.Một số đề xuất, kiến nghị
        Nhận thức được những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế như đã nêu trên, chúng tôi thấy rằng, yêu cầu cấp bách đặt ra hiện là cần tăng cường dạy học môn Thống kê xã hội học phục vụ công tác nghiên cứu khoa học cho sinh viên Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, tập trung vào một số nội dung sau:
        Thứ nhất, đối với Chương trình đào tạo tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân cần tập trung phục vụ cho công tác giảng dạy nói chung và hoạt động đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy gắn với hoạt động sinh viên nghiên cứu khoa học.
        Thứ hai, đổi mới nội dung giảng dạy môn Thống kê xã hội gắn với hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên. Khi giảng dạy Thống kê xã hội học, giảng viên nên chú trọng đổi mới nội dung giảng dạy theo hướng gắn với công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên bao gồm: Về kiến thức: giảng viên tăng cường trang bị những kiến thức căn bản về Toán thống kê, Toán xác suất. Đặc biệt là trang bị cho sinh viên một số phép vận dụng thống kê toán học cơ bản vào nghiên cứu khoa học như phép “thang đo”, so sánh một đại lượng nào đó với một vật chuẩn đã biết và kết quả là đưa ra các con số để đánh giá theo những nguyên tắc xác định. Bổ sung thêm nội dung “Ứng dụng phần mềm xử lý số liệu thống kê tội phạm” vào trong môn Thống kê xã hội học trong thời gian tới. Về kỹ năng: trong quá trình giảng dạy, giảng viên cần chú trọng đến việc rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng cách thu thập, xử lý và đánh giá số liệu thống kê khi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học; khả năng tư duy, sáng tạo, linh hoạt, kỹ năng hợp tác, phối hợp phân chia công việc hợp lý giữa các thành viên khi làm việc nhóm.
        Thứ ba, đổi mới phương pháp dạy học môn Thống kê xã hội học theo hướng tích cực, phát huy tính chủ động, đòi hỏi sinh viên tư duy sáng tạo để phân tích, thống kê đưa ra kết luận nghiên cứu. Với phương châm lấy người học là trung tâm, giảng viên phải đổi mới hình thức giảng dạy cho phù hợp, tạo thói quen cho sinh viên tự tìm tòi thông tin, tài liệu để thống kê. Giảng viên trong khi trực tiếp tham gia giảng dạy, ngoài việc tuyền đạt những kiến thức về Thống kê xã hội học, cần hướng dẫn sinh viên thực hiện phân tích số liệu thống kê phục vụ công tác nghiên cứu khoa học sau này. Giảng viên có thể ra các bài tập mở, bài tập về nhà, chia sinh viên thành từng nhóm nhỏ, trực tiếp giao những thông tin, số liệu về những tình huống thống kê cụ thể bám sát với công tác của lực lượng Cảnh sát nhân dân, sau đó yêu cầu sinh viên tự tổng hợp, lập bảng phân tích, áp dụng những dạng thống kê đã được học để giải quyết các yêu cầu của bài toán. Bên cạnh đó cần xây dựng đội ngũ giảng viên Bộ môn Toán - Tin học vững mạnh, có kiến thức thực tế phù hợp, linh hoạt với nội dung giảng dạy Thống kê xã hội học. Việc xây dựng đội ngũ giảng viên cần phải được quan tâm cả về số lượng và chất lượng mà trước tiên Bộ môn cần tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để giảng viên tự nâng cao năng lực, trình độ của bản thân, có kiến thức thực tế để làm tốt công tác giảng dạy. Mặt khác, mỗi giảng viên cũng đặt ra chỉ tiêu về thực hiện đề tài khoa học các cấp hàng năm về công tác giảng dạy; cần tích cực trong công tác nghiên cứu lý luận và thực tế, tự bổ sung kiến thức thực tế của mình bằng nhiều hình thức khác nhau, phải thấy được trách nhiệm của mình trong việc trang bị kiến thức ứng dụng Thống kê xã hội học trong nghiên cứu khoa học để truyền đạt cho sinh viên, tránh việc chỉ truyền đạt lý thuyết đơn thuần mà tích hợp với phương pháp dạy học phù hợp đối với từng hệ sinh viên.
        Thứ tư, đối với sinh viên khi học tập và ứng dụng kiến thức của môn Thống kê xã hội học trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Trong quá trình học tập sinh viên cần phát huy tinh thần tự học, tự nghiên cứu, củng cố kiến thức Toán học, tiếp thu kiến thức và vận dụng sáng tạo kiến thức Thống kê xã hội học, xây dựng và hình thành lối tư duy logic, phân tích, tổng hợp, xử lý số liệu trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Trong quá trình thực hiện đề tài sinh viên cần quan tâm vận dụng kiến thức thống kê xã hội học trong hoạt động thu thập, xử lý và phân tích số liệu vì đây là những hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả, chất lượng của đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học.

---------------------  
Tài liệu tham khảo
  1.  Vũ Cao Đàm (1997), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội.
  2.  Nguyễn Thị Thu Hà (2014), Dạy học Xác suất Thống kê theo hướng tăng cường vận dụng toán học vào thực tiễn cho sinh viên khối kinh tế, kĩ thuật, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
  3.  Tạ Hữu Hiếu (2013), Dạy học môn Thống kê toán học theo hướng vận dụng trong nghiên cứu khoa học cho sinh viên các trường Đại học Thể dục thể thao, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
  4.  Đào Hữu Hồ (2007), Giáo trình Thống kê xã hội học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
  5.  Đỗ Văn Liêm (2015), Giáo trình Thống kê xã hội học, Trường Đại học CSND, Thành phố Hồ Chí Minh.
  6.  Nguyễn Huy Quảng (2013), Đề cương bài giảng môn Thống kê xã hội học, Học viện CSND, Hà Nội.

[1] Số liệu được tổng hợp từ Báo cáo số liệu về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên các năm học (Từ năm học 2011 - 2012 đến năm học 2016 - 2017) của Phòng Quản lý Nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân.
[2] Đào Hữu Hồ (2007), Giáo trình Thống kê xã hội học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
[3] Đỗ Văn Liêm (2015), Giáo trình Thống kê xã hội học, Trường Đại học CSND, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tác giả bài viết: Võ Thị Huyền
Nguồn tin: Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 98 (tháng 1/2018)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (28/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (13/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)

Số: Chỉ thị số 14-CT/TW
Tên: (Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng)

Ngày BH: (18/07/2017)

Số: 1884/QyĐ-T48
Tên: (Quy định về văn hóa ứng xử của cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Trường Đại học CSND)

Ngày BH: (12/10/2017)

Số: 27/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân)

Ngày BH: (21/08/2017)

Số: 124/2015/NĐ-CP
Tên: (NGHỊ ĐỊNH SỐ 185/2013/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2013)

Ngày BH: (14/11/2013)