Rss Feed

Menu

Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh
Bông Hồng Xanh
40 năm
tap chi

Thống kê

  • Đang truy cập: 70
  • Hôm nay: 2629
  • Tháng hiện tại: 91586
  • Tổng lượt truy cập: 1739091

Nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên hệ chính quy chuyên ngành quản lý giáo dục và cải tạo phạm nhân tại trường đại học cảnh sát nhân dân

Đăng lúc: Thứ hai - 30/01/2017 19:50 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
        1. Những hạn chế và bất cập
        Khoa Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp (tiền thân là Bộ môn Nghiệp vụ quản lý trại giam) được thành lập vào tháng 02/1996, là đơn vị đào tạo nghiệp vụ chuyên ngành của lực lượng Cảnh sát trực thuộc Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, có trách nhiệm giúp Hiệu trưởng tổ chức giảng dạy nghiệp vụ chuyên ngành Giáo dục, cải tạo phạm nhân theo chương trình đào tạo của Bộ Công an. Trải qua 20 năm, kể từ khi được thành lập, Khoa đã trực tiếp giảng dạy nghiệp vụ chuyên ngành Giáo dục, cải tạo phạm nhân cho 16 khoá hệ chính quy tập trung với 554 sinh viên; 9 khoá hệ vừa làm vừa học với 1.254 sinh viên; 05 khoá hệ liên thông với 647 sinh viên. Đây là nguồn nhân lực đáng kể, đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh phòng, chống tội phạm và giáo dục, cải tạo người phạm tội của lực lượng THAHS&HTTP thuộc Bộ Công an. Phần lớn học viên khi tốt nghiệp ra trường về các đơn vị công tác đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, yêu ngành, yêu nghề, có trình độ chuyên môn, nắm vững các quy định của pháp luật, hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao. Nhiều cán bộ được đào tạo tại Trường Đại học CSND về công tác tại các đơn vị thuộc Tổng cục Cảnh sát THAHS&HTTP (Tổng cục VIII) đã trưởng thành, đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo chỉ huy, góp phần vào sự lớn mạnh của lực lượng Cảnh sát THAHS&HTTP.
        Tuy vậy, thực tiễn chất lượng hoạt động của một số cán bộ trong lực lượng Cảnh sát THAHS&HTTP được đào tạo tại Trường Đại học CSND sau khi tốt nghiệp ra trường vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu so với chức năng, nhiệm vụ được giao của Tổng cục VIII. Theo đánh giá của Cục Chính trị Tổng cục VIII (C90), những hạn chế đó là: Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo về mọi mặt công tác đôi lúc còn chưa thống nhất và đầy đủ về vị trí, chức năng, tầm quan trọng của công tác THAHS&HTTP; phối hợp giữa các đơn vị thuộc Tổng cục và Công an đơn vị, địa phương về công tác THAHS&HTTP chưa thường xuyên, kịp thời và phối hợp về xây dựng lực lượng trinh sát THAHS&HTTP; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp huyện, trại tạm giam, nhà tạm giữ phát sinh một số điểm bất hợp lý cần phải được điều chỉnh kịp thời, nhất là nhà tạm giữ; phân cấp các mặt công tác nghiệp vụ còn chưa triệt để, thiếu đồng bộ trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ; bố trí lực lượng, biên chế cho lực lượng Cảnh sát THAHS&HTTP ở cả Tổng cục VIII và Công an các đơn vị, địa phương còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; trình độ đào tạo của lực lượng Cảnh sát THAHS&HTTP nhìn chung còn thấp so với nhiều lực lượng khác của Bộ Công an; chế độ, chính sách tuy đã được quan tâm nhưng còn nhiều bất cập, chưa thật hợp lý, chưa có chính sách thu hút nhân tài, nhất là đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi vào công tác ở các trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, nhà tạm giữ, còn thiếu nhà làm việc, nhà ở doanh trại, nhà ăn, nhà thường trực, nơi sinh hoạt, nơi tổ chức các hoạt động thể thao cho cán bộ, chiến sĩ, nhiều công trình xây dựng đã xuống cấp, số lượng đối tượng đưa vào cơ sở giam giữ nhất là can phạm, phạm nhân tăng nhanh dẫn đến tình trạng quá tải; phương tiện chiến đấu, vũ khí, công cụ hỗ trợ, trang thiết bị công tác còn thiếu, chất lượng chưa đảm bảo... Đây là thách thức không nhỏ, cần phải được giải quyết triệt để nhằm nâng cao sức chiến đấu cho lực lượng Cảnh sát THAHS&HTTP.
        Những hạn chế được Cục C90 đánh giá trên đây xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó một phần liên quan đến lĩnh vực giáo dục, đào tạo nói chung và quá trình giảng dạy sinh viên chuyên ngành quản lý giáo dục và cải tạo phạm nhân tại Trường Đại học CSND nói riêng. Từ thực tiễn công tác giảng dạy của Khoa THAHS&HTTP, chúng tôi nhận ra những vấn đề sau đây cần được giải quyết nhằm nâng cao chất lượng đào tạo chuyên ngành QLGD và CTPN:
        Một là, sinh viên chuyên ngành QLGD và CTPN chưa ý thức đầy đủ về ý nghĩa, giá trị của ngành nghề mà mình đang theo học nên chưa có thái độ và động cơ học tập đúng đắn. Sinh viên vẫn chưa xác định được mục tiêu học tập rõ ràng, chưa trả lời được câu hỏi “học để làm gì?”. Nhiều sinh viên có tư tưởng học tập trung bình chủ nghĩa, không có ý chí muốn phấn đấu đạt kết quả cao hơn trong học tập mà chỉ dừng ở mức đạt điểm 5 (đủ để đảm bảo yêu cầu khi thi học phần). Đây là vấn đề thuộc về tư tưởng, có nguyên nhân sâu xa từ nhận thức của xã hội nói chung đối với nghề giáo dục và cải tạo phạm nhân, chưa đánh giá đúng tầm quan trọng và tính nhân văn của nghề nghiệp này đối với sự giáo dục nhân cách của con người, nhất là người phạm tội. Sinh viên chuyên ngành, ngoài các đồng chí là cán bộ, chiến sĩ nghĩa vụ đã từng công tác trong ngành, vốn đã hiểu và có tình cảm nhất định với nghề thì các sinh viên từ học sinh phổ thông trúng tuyển vào đa phần không muốn học chuyên ngành QLGD và CTPN. Khi trúng tuyển vào trường, đa số các sinh viên đều mong muốn được học ở các chuyên ngành đang được xã hội coi trọng như: Cảnh sát điều tra, Cảnh sát quản lý hành chính, Cảnh sát giao thông, Cảnh sát môi trường, Cảnh sát kinh tế. Số lượng sinh viên chuyên ngành là có hạn, do vậy, kết quả sẽ có những sinh viên học chuyên ngành mà họ không mong muốn, không thích, trong đó có chuyên ngành QLGD và CTPN.
        Hai là, phương pháp giảng dạy vẫn còn nặng về thuyết trình, chưa phát huy được năng lực sáng tạo của sinh viên, chưa tạo được môi trường học tập hứng thú trong lớp. Về khách quan, việc bố trí lớp học, điều kiện học tập hiện tại không phù hợp để giảng viên có thể đa dạng hoá phương pháp và hình thức tổ chức dạy học; phương tiện dạy học chưa phù hợp để áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Về chủ quan, giảng viên chưa đầu tư đúng mức cho việc đổi mới phương pháp dạy học vốn dĩ mất nhiều thời gian, công sức. Giảng viên thường chú tâm đến việc đầu tư vào hồ sơ bài giảng, phương pháp giảng dạy khi họ thực hiện bài dạy giỏi, tham gia hội giảng, nói cách khác khi họ buộc phải đầu tư vì có sự kiểm tra, đánh giá. Về phía sinh viên, một số ít sinh viên tích cực tham gia phát biểu trong giờ học, đa phần còn lại thụ động ngồi nghe giảng viên dạy. Sinh viên chưa buộc phải chủ động, sáng tạo và họ cũng không có động lực để phát huy khả năng đó.
        Ba là, bài giảng của giảng viên sinh động hơn nhờ sự hỗ trợ của máy chiếu, phim ảnh nhưng nhìn chung còn nặng về lý thuyết, học chưa đi đôi với hành, lý luận chưa thật sự gắn liền với thực tiễn. Thực chất của việc liên hệ thực tế không đơn thuần là chiếu một đoạn phim, xem một vài hình ảnh công tác thực tiễn mà là giúp sinh viên có trải nghiệm thực tiễn thông qua việc giải quyết các tình huống sẽ nảy sinh trong thực tế. Sinh viên cần kinh nghiệm và điều đó chỉ có được khi họ thực hiện công việc (dù thật hay mô phỏng) chứ không phải xem phim ảnh. Bài học về hồ sơ nghiệp vụ kéo dài trong 01 tuần sẽ không đem lại cho sinh viên kinh nghiệm nào nếu giảng viên không yêu cầu sinh viên phải thực hành 01 bộ hồ sơ thực tế. Một tuần kiến tập ở một đơn vị trại giam và tiếp xúc với phạm nhân sẽ giúp sinh viên có động lực học bài khai thác phạm nhân. Hơn nữa, kiến thức thực tế của giảng viên còn hạn chế và chưa được cập nhật thường xuyên, dẫn đến lạc hậu, không theo kịp sự thay đổi không ngừng của thực tiễn công tác.
        Bốn là, sinh viên chưa có năng lực tự học, tự đào tạo. Mặc dù khó khăn hiện tại của việc dạy học là hệ thống giáo trình còn chưa hoàn thiện, nhưng đó không phải là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến năng lực tự học của sinh viên. Các khảo sát gần đều cho thấy số lượng sinh viên đến thư viện đọc sách là không đáng kể. Rất ít sinh viên gặp giảng viên để trao đổi nội dung bài học và hầu như sinh viên không tham gia tự học trong nhóm. Nguyên nhân của hạn chế này là sinh viên chưa có nhu cầu tự học. Họ chưa thấy được và mong muốn có được lợi ích từ việc tự học nên không đầu tư vào hoạt động này.
        2. Một số đề xuất
        Từ phân tích, đánh giá trên đây về các hạn chế, bất cập trong quá trình đào tạo sinh viên hệ chính quy chuyên ngành QLGD và CTPN, chúng tôi có những đề xuất sau đây nhằm từng bước nâng cao chất lượng hoạt động này:
        Thứ nhất, nâng tinh thần, ý thức trách nhiệm để giải quyết vấn đề tư tưởng của sinh viên chuyên ngành này
        Nhìn từ góc độ giảng dạy, Khoa THAHS&HTTP phải là đơn vị chủ công thực hiện đề xuất này bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể như:
        - Tập thể đơn vị phấn đấu trở thành một trong những đơn vị đi đầu, có uy tín trong trường về các mặt công tác chuyên môn và phong trào thi đua. Từ đó, không ngừng củng cố lòng tin, sự tôn trọng của lãnh đạo nhà trường, đồng nghiệp và sinh viên, nhất là với sinh viên chuyên ngành. Mặt khác, tăng cường các mối quan hệ giao lưu, kết nghĩa với Tổng cục VIII và các đơn vị nghiệp vụ ở địa phương để phục vụ cho công tác chuyên môn, đồng thời, giúp sinh viên chuyên ngành có điều kiện tốt để kiến tập, thực tập và công tác sau này.
        - Lãnh đạo đơn vị quán triệt các giảng viên lên lớp hoặc khi tiếp xúc với sinh viên chuyên ngành, ngoài việc truyền đạt về kiến thức chuyên môn, cần khơi dậy ở sinh viên lòng yêu nghề, tự hào với nghề nghiệp mình đang theo học. Giảng viên cần lồng ghép trong bài giảng của mình các câu chuyện thực tế hướng đến các giá trị nhân bản cao đẹp mà nghề nghiệp này mang lại, từ đó xây dựng niềm tin của sinh viên vào nghề nghiệp trong tương lai.
        - Nâng cao chất lượng các phong trào của sinh viên chuyên ngành như: tiếp tục định kỳ hàng năm tổ chức kỷ niệm ngày truyền thống của lực lượng Cảnh sát THAHS&HTTP với chủ đề “Tự hào sinh viên chuyên ngành QLGD và CTPN”; phong trào thi học sinh giỏi; nghiên cứu khoa học; thể dục, thể thao, văn nghệ; phong trào đền ơn, đáp nghĩa; giao lưu, kết nghĩa; thực hiện các công trình, sáng kiến.
        Thứ hai, đổi mới phương pháp giảng dạy từ nặng về thuyết trình sang hướng dẫn và tổ chức dạy học hướng đến mục tiêu phát huy tối đa năng lực sáng tạo của sinh viên, tạo không khí học tập sôi nổi. Cụ thể là:
        - Giảng viên phổ biến kế hoạch dạy học, nêu trọng tâm yêu cầu cần đạt được về nhận thức, thái độ và kỹ năng đối với sinh viên.
        - Cung cấp đầy đủ tài liệu học tập cho sinh viên hoặc giới thiệu nguồn để sinh viên tự tìm hiểu.
        - Giao nhiệm vụ nghiên cứu, kết quả cần đạt được.
        - Hướng dẫn, hỗ trợ về kiến thức, phương pháp và các điều kiện cần thiết khác trong quá trình họ thực hiện nhiệm vụ.
    - Kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, làm cơ sở cho việc tính điểm điều kiện dự thi kết thúc học phần của sinh viên.
        Thứ ba, nâng cao năng lực thực tiễn của giảng viên; hình thành kỹ năng, kinh nghiệm cho sinh viên. Cụ thể là:
        - Mỗi giảng viên chủ động và có trách nhiệm cao trong việc tự trang bị kiến thức thực tế cho bản thân. Lãnh đạo đơn vị tăng cường công tác quản lý, kiểm tra chất lượng công tác thực tế của từng giảng viên. Ngoài hình thức luân chuyển đang được thực hiện, mỗi giảng viên cần đăng ký và thực hiện có chất lượng hoạt động thực tế hàng năm tại các đơn vị địa phương.
        - Hoạt động thực tế phải có sản phẩm cụ thể và giảng viên phải báo cáo về hiệu quả ứng dụng sản phẩm đó vào bài giảng nói riêng, công tác nghiên cứu, giảng dạy nói chung trước Khoa. Đối với giảng viên luân chuyển thực tế thì căn cứ vào kế hoạch nghiên cứu do Khoa ban hành để kiểm tra, đánh giá chất lượng công tác.
        - Tổ chức các hình thức dạy học hoặc thực hiện các phương pháp để hình thành và phát triển kỹ năng cho sinh viên, giúp họ có kinh nghiệm như: Thực hành lập hồ sơ, giải quyết tình huống, làm việc nhóm, thuyết trình, giải quyết xung đột, tổ chức phong trào...
        Thứ tư, phát huy năng lực tự học của sinh viên
        Như đã phân tích, nguyên nhân chính dẫn đến ý thức tự học của sinh viên không cao là do họ chưa có nhu cầu để tự học. Nhu cầu này sẽ xuất hiện nếu giảng viên thực hiện các hoạt động sau:
        - Giảng viên giao nhiệm vụ cho sinh viên trong quá trình dạy học và để hoàn thành nhiệm vụ đó buộc sinh viên phải tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu. Giảng viên cung cấp hoặc chỉ rõ nguồn để sinh viên tìm tài liệu. Ở mức độ cao hơn buộc sinh viên phải trao đổi với bạn hoặc làm việc nhóm mới có thể giải quyết được.
        - Việc giao nhiệm vụ cho sinh viên cần cụ thể và giảng viên có thể đánh giá được kết quả. Sinh viên có thể tự phân công nhiệm vụ cho nhau (do nhóm trưởng chịu trách nhiệm), sau đó giảng viên kiểm tra tính khả thi, cụ thể và hợp lý của bảng phân công. Khi giảng viên đồng ý thì việc đánh giá được dựa trên nhiệm vụ của từng sinh viên được phân công.
        - Giảng viên cần quan tâm đến cách đánh giá sinh viên theo hướng: Chú trọng kết quả, thưởng phạt công minh, khuyến khích tinh thần sáng tạo, phân loại được sinh viên và không tạo điều kiện để họ có thể sao chép, ỷ lại lẫn nhau. Sinh viên luôn có tâm lý đối phó, thích làm việc nhẹ, đùn đẩy công việc cho người khác nhưng lại muốn hưởng lợi ích giống người khác. Mặt khác, nếu giảng viên đề nghị sinh viên đánh giá lẫn nhau thì phần lớn sinh viên rất ngại đánh giá thấp bạn mình vì sợ ảnh hưởng đến mối quan hệ cá nhân. Do vậy, vai trò của giảng viên là đánh giá đúng chất lượng kết quả và sự đóng góp của sinh viên để cho điểm hợp lý. Điều này là rất quan trọng vì nếu không công bằng, sinh viên giỏi sẽ không làm hết khả năng của họ thậm chí làm đối phó, còn sinh viên kém, lười sẽ không cần phấn đấu.
          Để nâng cao chất lượng giảng dạy sinh viên hệ chính quy chuyên ngành QLGD và CTPN cần có sự phối hợp của nhiều đơn vị chức năng trong Nhà trường, trong đó Khoa THAHS&HTTP có vai trò quyết định. Đồng thời, mỗi sinh viên chuyên ngành cũng cần thay đổi nhận thức về nghề nghiệp của mình để từ đó có thái độ và động cơ học tập đúng đắn. Từng giảng viên, cán bộ quản lý cần nêu cao tinh thần trách nhiệm trong sự nghiệp giáo dục, nhằm cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho xã hội.
------------------------
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Như Sang, Nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức thực hành cho sinh viên chuyên ngành QL, GD và CTPN đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lực lượng Cảnh sát THAHS&HTTP đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới”, năm 2016.
2. Cục C90 - Tổng cục VIII, Thực trạng chất lượng công tác cán bộ của các cục nghiệp vụ thuộc Tổng cục VIII (Cơ sở phía Nam) - Yêu cầu đặt ra đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong tình hình mới, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, năm 2016.
3. Lớp CTPN D21 - T48, Giải pháp nâng cao chất lượng học tập của sinh viên chuyên ngành quản lý giáo dục và cải tạo phạm nhân, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, năm 2016.
4. Ngô Đức Việt, Nâng cao chất lượng thực tế của giảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng lực lượng Cảnh sát THAHS&HTTP trong tình hình mới, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, năm 2016.
5. Nguyễn Minh Tu, Đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên Khoa THAHS&HTTP Trường Đại học CSND đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, năm 2016.
6. Nguyễn Văn Lợi, Nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức kiến tập cho sinh viên chuyên ngành QL, GD và CTPN, hệ chính quy tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, năm 2016.
Tác giả bài viết: Hoàng Đức Mạnh
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 83 (tháng 11/2016)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc