Rss Feed
Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh
Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật
Bông Hồng Xanh
tap chi

Thống kê

  • Đang truy cập: 42
  • Khách viếng thăm: 41
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 3953
  • Tháng hiện tại: 102658
  • Tổng lượt truy cập: 2446846

Dạy và học ngoại ngữ ở Trường đại học Cảnh sát nhân dân - Những kiến nghị, đề xuất đổi mới nhằm nâng cao chất lượng

Đăng lúc: Thứ năm - 14/04/2016 20:46 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
      Việc dạy và học ngoại ngữ có vai trò quan trọng giúp đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế.
      Nhận thức rõ vị trí, vai trò của Ngoại ngữ đối với các trường CAND, cái nôi đào tạo nên những sỹ quan Cảnh sát không những giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà còn thông thạo về ngoại ngữ, Bộ môn Ngoại ngữ Trường Đại học CSND đã luôn cố gắng khắc phục khó khăn, hoàn thảnh tốt nhiệm vụ, đặc biệt là giai đoạn hiện nay, giai đoạn thực hiện Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020” (Gọi tắt là Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020), góp phần không nhỏ vào sự nghiệp đào tạo chung của Trường.
      Tôi xin trình bày sơ lược về việc “Dạy và học ngoại ngữ ở Trường Đại học CSND” và từ đó có những kiến nghị, đề xuất đổi mới nhằm nâng cao chất lượng.
      I. Tình hình dạy và học ngoại ngữ tại Trường Đại học CSND
      1.1. Về phía giảng viên
      Đội ngũ giảng viên Bộ môn Ngoại ngữ, (trên 60% giảng viên có trình độ thạc sĩ, tiến sỹ) có tinh thần trách nhiệm cao, luôn đảm nhiệm khối lượng công việc lớn trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và biên soạn giáo trình, tài liệu học tập.
      Các giảng viên không ngừng cập nhật và áp dụng các phương pháp dạy học mới trong giảng dạy. Công tác cải tiến phương pháp dạy học, áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy luôn được quan tâm. Trong quá trình giảng dạy Ngoại ngữ tại Trường Đại học CSND, chúng tôi đã và đang thực hiện phương pháp dạy học tiếng Anh theo định hướng tích cực hoá hoạt động học tập. Giảng viên luôn coi trọng việc hình thành và ưu tiên phát triển các kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc và viết). Chính vì vậy, phương pháp giao tiếp, có sự kết hợp hài hòa với các phương pháp dạy học khác đang được áp dụng trong quá trình giảng dạy tiếng Anh ở Đại học CSND.
      Hệ thống hồ sơ bài được chỉnh lý, hoàn thiện theo từng năm học. Bộ môn đã xây dựng 100% giáo án điện tử cho các hệ học trong và ngoài trường. Thường xuyên cập nhật thông tin, hình ảnh và những đoạn phim về các tình huống nghiệp vụ đưa vào giảng dạy giúp sinh viên được tiếp xúc với ngữ cảnh thực tế.
      Bộ môn luôn chú trọng công tác tổ chức thi, kiểm tra đánh giá. Thay đổi hình thức, thi, kiểm tra toàn diện 4 kỹ năng (Nghe - Nói - Đọc - Viết) và tổ chức thi nghiêm túc để đánh giá đúng chất lượng của sinh viên.
      Sự phối hợp đồng bộ giữa Phòng Quản lý học viên, Phòng Quản lý đào tạo và Bộ môn Ngoại ngữ luôn được duy trì để quản lý việc học tập cũng như tổ chức các hoạt động ngoại khóa của sinh viên.
      1.2. Về phía sinh viên
      Mặc dù trình độ đầu vào của sinh viên Trường Đại học CSND không đồng đều và có sự khác biệt khá lớn về năng lực ngôn ngữ giữa họ (Học sinh phổ thông so với cán bộ đi học; Học sinh thành phố với học sinh các tỉnh vùng sâu, vùng xa; Học sinh học ngoại ngữ hệ 3 năm với học sinh học ngoại ngữ hệ 7 năm...), nhưng sinh viên ý thức được tầm quan trọng của môn học cũng như trách nhiệm của người học vì vậy đa số sinh viên có ý thức học tập tốt. Sinh viên hứng thú và tích cực trong hoạt động luyện tập phát triển kĩ năng ngôn ngữ, nhất là 2 kĩ năng nghenói, nhưng cũng rất dễ chán nản trong việc luyện tập phát triển các kĩ năng phức tạp, ví dụ như kĩ năng đọc hiểu vì gặp nhiều từ mới, trừu tượng và khó đoán nghĩa; hoặc như kĩ năng viết vì cảm thấy khó diễn đạt suy nghĩ, ý tưởng cá nhân bằng ngôn ngữ viết.
      Bên cạnh việc cố gắng học tập, sinh viên còn tham gia các hoạt động ngoại khóa khá sôi nổi. Câu lạc bộ Ngoại ngữ hoạt động hiệu quả đã tạo ra một sân chơi bổ ích cho sinh viên. Các buổi hội thảo về phương pháp học tập; Hội thảo về động cơ học tập và củng cố kiến thức do các lớp tổ chức được thực hiện định kỳ.
      1.3. Về tài liệu học tập
      Tài liệu tiếng Anh đại cương:
      Tài liệu chính dùng để giảng dạy tiếng Anh đại cương cho các hệ trong trường là bộ giáo trình New Headway English Course - ấn bản lần thứ nhất của nhà xuất bản Oxford Unviersity Press năm 2000. Trong quá trình sử dụng, giáo trình này đã bộc lộ rất nhiều ưu điểm, góp phần nâng cao năng lực tiếng Anh cho sinh viên các khóa của Trường Đại học CSND. Tuy nhiên đứng trước bối cảnh hợp tác quốc tế và thực hiện Đề án ngoại ngữ 2020, đổi mới toàn bộ hệ thống giảng dạy ngoại ngữ từ trước đến nay, từ chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học, kiểm tra, đánh giá đến việc đảm bảo đủ đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất phục vụ dạy và học ngoại ngữ... Nên từ năm học (2013 - 2014), Trường đã sử dụng giáo trình ENGLISH UNLIMITED của nhà xuất bản Cambridge University Press để giảng cho sinh viên hệ chính quy.
      Tài liệu tiếng Anh chuyên ngành:
     Hiện tại trường đã có một số giáo trình tiếng Anh chuyên ngành dành cho các khoa chuyên ngành như cuốn An ESP course for Students of Forensic Science, Trường Đại học CSND, dành cho sinh viên khoa Kỹ thuật hình sự; Cuốn English for Investigators, Trường Đại học CSND, dành cho sinh viên khoa Cảnh sát Điều tra. Các khoa chuyên ngành khác đang dùng chung cuốn giáo trình English for Law Enforcement của nhà xuất bản Macmilan.
      II. Những kiến nghị, đề xuất đổi mới nhằm nâng cao chất lượng.
      Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ tại Trường Đại học CSND chúng tôi xin có một vài kiến nghị, đề xuất sau:
      Một là: Nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ - nhìn từ góc độ thiết kế giáo trình tiếng Anh chuyên ngành
      Trong những năm gần đây Ban Giám hiệu Trường Đại học CSND luôn tạo điều kiện thuận lợi để giúp cho việc dạy và học Ngoại ngữ đạt kết quả tốt. Song song với việc bồi dưỡng giảng viên, đầu tư kinh phí trang bị phương tiện dạy học, Ban Giám hiệu Nhà trường luôn tạo điều kiện và khuyến khích giảng viên ngoại ngữ viết tài liệu chuyên sâu và giáo trình tiếng Anh chuyên ngành cho các hệ học.
      Tuy nhiên trong quá trình biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành cho các hệ học trong những năm qua chúng tôi đã gặp phải không ít khó khăn như:
      -   Tài liệu gốc thu thập được từ các nguồn còn nhiều hạn chế về số lượng, chất lượng và đôi khi không phù hợp với trình độ sinh viên, không phân định rõ ràng từng chuyên ngành đang được đào tạo tại các trường CAND.
      -   Tài liệu tiếng Anh chuyên ngành dùng để luyện kỹ năng nghe khá hiếm và tương đối khó so với mặt bằng trình độ của sinh viên trường ta nên khi biên soạn giáo trình các tác giả chú trọng nhiều vào việc cung cấp các thuật ngữ, từ vựng chuyên ngành mà chưa có sự đa dạng trong các hoạt động phát triển kỹ năng.
      -   Giảng viên của bộ môn Ngoại ngữ đa số tốt nghiệp các trường đại học ngành ngoài, mặc dù đã được tham gia lớp bồi dưỡng nghiệp vụ CSND nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về kiến thức nghiệp vụ. Do đó đôi khi chưa có sự so sánh, đối chiếu, liên hệ với các thuật ngữ luật, các thuật ngữ chuyên ngành liên quan đến hoạt động nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát mà chỉ đơn thuần đối dịch hay đưa ra các từ tương đương giữa hai ngôn ngữ.
      -   Đa số giảng viên của bộ môn Ngoại ngữ chưa được tham gia vào các khoá học bồi dưỡng nâng cao trình độ về biên soạn giáo trình và tài liệu giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành nên họ không có điều kiện để cập nhật các phương pháp thiết kế bài giảng mới, hiện đại.
 Xuất phát từ thực trạng biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành tại trường Đại học Cảnh sát, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm giúp cho việc biên soạn giáo trình ngày càng tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành tại Trường Đại học CSND:
      - Cần thiết phải biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành cho từng chuyên ngành hẹp để tạo hứng thú và đáp ứng được yêu cầu đào tạo của từng chuyên ngành.
      - Khi thiết kế các bài học trong giáo trình tiếng Anh chuyên ngành nên tuân thủ theo một cấu trúc nhất định, có sự đa dạng trong các hoạt động phát triển kỹ năng, không nên chỉ chú tâm vào việc cung cấp các thuật ngữ, từ vựng chuyên ngành.
      - Học tiếng Anh đòi hỏi người học phải có ý thức tự học cao, vì vậy khi biên soạn các hoạt động trong một đơn vị bài học tác giả nên chú ý nhiều hơn đến các hoạt động tự học của sinh viên.
      - Bên cạnh đó khi biên soạn giáo trình, tác giả nên cố gắng có sự so sánh, đối chiếu về ngữ nghĩa, ngữ cảnh của các thuật ngữ chuyên ngành liên quan đến hoạt động nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát chứ không chỉ đơn thuần là đối dịch, đưa ra các từ tương đương giữa hai ngôn ngữ.
      - Tạo mọi điều kiện để giảng viên ngoại ngữ được đi thực tế, tham gia các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ về biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành do các chuyên gia nước ngoài giảng dạy.
      Hai là: Thúc đẩy ý thức tự học và sáng tạo của sinh viên
      Tại Trường Đại học CSND, vấn đề tự học, sáng tạo của sinh viên luôn được đặt lên hàng đầu trong các mục tiêu đào tạo. Nhà trường luôn tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, về con người, về cơ chế để phát huy khả năng tự học của sinh viên.
Trong quá trình học môn ngoại ngữ, những kỹ năng tự học đó đã được sinh viên áp dụng để tự tìm tòi, nâng cao khả năng tự học và sáng tạo của mình. Nhưng thật sự kết quả việc tự học và sáng tạo của sinh viên trong học môn ngoại ngữ là chưa cao, chưa mang tính phổ biến và lan rộng.
      Trước thực trạng đó, việc xây dựng ý thức tự học và sáng tạo trong học tập môn ngoại ngữ cho sinh viên Đại học CSND ngay từ khi bước chân vào trường là một việc làm cần thiết. Để nâng cao chất lượng đào tạo, chúng tôi có một số đề xuất sau:
      2.1. Đối với nhà trường
      - Tăng cường và tiếp tục hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị đạt chuẩn cho việc dạy và học ngoại ngữ như: Xây dựng phòng học ngoại ngữ, phòng nghe nhìn và phòng đa phương tiện đúng tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Mua sắm các trang thiết bị thiết yếu cho việc dạy và học ngoại ngữ của Trường phù hợp với lộ trình triển khai để đạt mục tiêu của Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020; Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kỹ thuật viên nhằm sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy và học ngoại ngữ; khai thác đúng mục đích các nguồn thông tin, tư liệu nước ngoài, đặc biệt là Internet phục vụ cho việc dạy và học ngoại ngữ.
      - Tạo môi trường mang tính tự học cao cho sinh viên (autonomous learning environment) như đầu tư thêm sách học tiếng Anh cho sinh viên để ngoài giáo trình chính trên lớp, sinh viên có thể tự trau dồi thêm về các kỹ năng ngôn ngữ khác.
      - Không sử dụng phòng lab để giảng dạy như một lớp học bình thường mà chỉ dùng để luyện kỹ năng (nghĩa là không xếp lịch giảng dạy trong phòng lab như hiện tại).
      2.2. Đối với giảng viên Bộ môn Ngoại ngữ
      - Để giúp sinh viên tự học và sáng tạo, trước hết giảng viên phải đóng vai trò là người tư vấn cho sinh viên (language teacher - advisor). Để thực hiện được vai trò này, người giảng viên cần: Phải là một tấm gương tự học để sinh viên noi theo như: Hướng dẫn cách thức, phương pháp cũng như kinh nghiệm trong việc tự học cho sinh viên; Học cách sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin và áp dụng vào giảng dạy thành thạo, có hiệu quả; Cung cấp tài liệu và giới thiệu địa chỉ tìm tài liệu; Hướng dẫn sinh viên cách xử lí thông tin khi tự học nhằm tạo không khí, môi trường tự học thân thiện, cởi mở.
      - Trong tiết học giảng viên cần: Giao nhiệm vụ cụ thể với mục tiêu, yêu cầu rõ ràng để sinh viên hoàn thành trước hoặc sau khi lên lớp; Tích cực, sáng tạo áp dụng các phương pháp đàm thoại, thảo luận, làm việc theo cặp nhóm; Khuyến khích việc xây dựng các nhóm tự học trong sinh viên. Tùy theo điều kiện, trình độ để xây dựng các nhóm tự học theo các hình thức như: theo cặp, nhóm bạn bè; theo khả năng, trình độ hay theo cặp nhóm ngẫu nhiên.
      - Trong quá trình đánh giá kết quả học tập của sinh viên, cần khuyến khích và biểu dương những sinh viên có thái độ học tập tích cực, chủ động tìm hiểu, nắm bắt kiến thức.
      - Ngoài ra giảng viên cần chủ trì và phối hợp với đoàn thành niên, với phòng quản lý học viên thường xuyên tăng cường các hoạt động ngoại khóa: câu lạc bộ ngoại ngữ, tổ chức thi hùng biện môn ngoại ngữ; bố trí thời gian để bồi dưỡng và giới thiệu những sinh viên có năng lực vào quá trình tổ chức tự học cho các sinh viên khác.        
      2.3. Đối với sinh viên
      - Chuẩn bị bài mới kĩ càng trước khi lên lớp.
      - Trong giờ học, tích cực tham gia xây dựng bài, trao đổi thảo luận với giảng viên, với các sinh viên khác trong lớp theo cặp, theo nhóm.
      - Sau giờ lên lớp cần ôn tập kiến thức đã học và vận dụng vào thực tế.
      - Lập kế hoạch học tập hợp lí trong đó cần nêu rõ các công việc phải làm với thời gian và dự kiến kết quả cụ thể.
      - Tích cực tham gia hoạt động của câu lạc bộ ngoại ngữ, các diễn đàn học tập trau dồi kỹ năng ngoại ngữ trên mạng Internet.
      - Triển khai và mở rộng các chương trình giao lưu sinh viên tình nguyện, các hoạt động ngoại khoá (văn hoá, nghệ thuật, báo chí…) có sử dụng ngoại ngữ.
      Ba là: Gợi ý một số biện pháp để áp dụng giảng dạy ở lớp đông sinh viên
      Thực tế ở trường ta hiện nay số lớp học ngoại ngữ nhiều mà số lượng giảng viên chưa đủ, hơn nữa số lượng phòng học cũng không đủ để đáp ứng tiêu chí của phòng học chuẩn với số lượng 30 sinh viên/1 lớp. Hầu hết các lớp học ngoại ngữ ở trường ta hiện nay có sỹ số từ 45 sinh viên đến 62 sinh viên.
      Như vậy, vấn đề đảm bảo chất lượng dạy và học luôn là một thách thức đối với người làm công tác quản lý đào tạo cũng như đối với giảng viên đứng lớp.
      Để có một giờ dạy học ngoại ngữ thành công ở lớp đông sinh viên thì ngay ở bước hoạt động đầu tiên của giờ dạy giáo viên cần tạo ra không khí học tập thuận lợi về cả mặt tâm lý lẫn nội dung cho hoạt động dạy học tiếp theo đó. Những hoạt động gây không khí học tập này thường rất ngắn khoảng (5 - 7 phút) nhưng vô cùng quan trọng. Tùy theo mục đích và đặc thù của giờ dạy, đồng thời tùy theo đối tượng sinh viên cụ thể của mình, giảng viên có thể lựa chọn những hoạt động hay thủ thuật vào bài cho phù hợp.    
      Để tạo môi trường thuận lợi cho bài học người giảng viên cần phải: Thiết lập không khí dễ chịu, thân thiện giữa thầy và trò ngay giờ phút đầu của bài; Tạo thế chủ động, tự tin cho sinh viên, tập trung sự chú ý gây hứng thú cho sinh viên bằng cách bắt đầu ngay một hoạt động học tập nào đó liên quan đến bài học chẳng hạn như hỏi và gợi ý về chủ đề mới, sử dụng tranh ảnh hay vật thật…
      Để Chuẩn bị tâm lí, kiến thức cho bài học mới người giảng viên cần: Khai thác kiến thức đã biết của sinh viên bằng thủ thuật gợi mở (eliciting), hay nêu vấn đề để cả lớp đóng góp ý kiến (brainstorming); Liên hệ những vấn đề của bài cũ có liên quan đến bài mới bằng nhiều hình thức khác nhau; Tạo ngữ cảnh, tình huống, hay lí do giao tiếp (communicative needs) cho các hoạt động kế tiếp của bài.
          Ngoài kỹ thuật mở bài, để giảng dạy thành công ở lớp đông sinh viên người giảng viên cần phải quan tâm đến rất nhiều yếu tố khác như:
     -   Khởi đầu một học kì, giảng viên cần chuẩn bị tốt cho buổi lên lớp đầu tiên (như chuẩn bị tốt bài giảng, đến lớp sớm một chút, trò chuyện, hỏi thăm sinh viên, cố tạo ra một không khí hòa đồng…) mục đích của việc này là tạo ấn tượng tốt ban đầu cho sinh viên về môn học mà sinh viên sẽ học trong suốt học kì.
     -   Cố nhớ càng nhiều tên của sinh viên càng tốt. Việc thuộc tên của sinh viên làm tăng thêm sự hòa hợp, sự thân thiện giữa người dạy và người học.
     -   Biết lắng nghe sinh viên cũng là phương pháp tốt để đạt kết quả. Việc lắng nghe sinh viên trả lời câu hỏi, yêu cầu sinh viên cung cấp thêm thông tin, giảng giải lại những điều sinh viên chưa rõ, không phê phán gay gắt những phát biểu sai hay những luận điểm trái ngược của sinh viên là tạo ra sự liên kết giữa truyền đạt và tiếp thu.
     -   Biết liên hệ ở mức độ cho phép giữa bài giảng với những sự kiện, vấn đề có liên quan đến bài giảng. Việc này không ngoài mục đích tạo sự hứng thú cho sinh viên, buộc sinh viên cùng liên tưởng đến vấn đề mà giảng viên đang nói.
     -   Những điều kiện trợ giúp khác làm cho giờ học tại lớp đông đạt hiệu quả như: Giáo trình; Âm thanh và các phương tiện dạy học đảm bảo tốt, không bị trục trặc trong suốt buổi; Giảng đường vừa đủ cho số lượng sinh viên, không chật quá và cũng không quá rộng; Bàn giáo viên không kê quá xa bàn đầu của sinh viên.
     Với tư cách là người lãnh đạo Bộ môn và là giảng viên có thời gian giảng dạy Ngoại ngữ lâu năm, giảng dạy Ngoại ngữ cho nhiều đối tượng sinh viên khác nhau, chúng tôi muốn trao đổi kinh nghiệm dạy Ngoại ngữ cùng đồng nghiệp với mong muốn cùng đồng nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo tại Trường Đại học CSND nói chung và chất lượng đào tạo môn Ngoại ngữ nói riêng./.
Tác giả bài viết: Đại tá, TS Nguyễn Thị Bích Hường - Trưởng Bộ môn Ngoại ngữ, Trường Đại học CSND
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tại Kỷ yếu Hội thảo khoa học “TrườngĐại học CSND 40 năm xây dựng và phát triển”
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (19/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (11/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (25/10/2017)

Số: Chỉ thị số 14-CT/TW
Tên: (Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng)

Ngày BH: (18/07/2017)

Số: 1884/QyĐ-T48
Tên: (Quy định về văn hóa ứng xử của cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Trường Đại học CSND)

Ngày BH: (12/10/2017)

Số: 27/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân)

Ngày BH: (21/08/2017)

Số: 124/2015/NĐ-CP
Tên: (NGHỊ ĐỊNH SỐ 185/2013/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2013)

Ngày BH: (14/11/2013)

Số: Chứng chỉ Tin học ICDL
Tên: (ICDL là chứng chỉ kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin)

Ngày BH: (12/11/2015)

Số: 2785/BYT-KCB
Tên: (Tăng cường thực thi Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá và hưởng ứng Ngày thế giới không thuốc lá; Tuần lễ Quốc gia không thuốc lá năm 2016)

Ngày BH: (15/05/2016)

Số: VBQPPL
Tên: (Hệ thống văn bản về thuế 2)

Ngày BH: (09/05/2017)