Rss Feed

Menu

Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh
Bông Hồng Xanh
tap chi

Thống kê

  • Đang truy cập: 34
  • Khách viếng thăm: 32
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 3559
  • Tháng hiện tại: 93192
  • Tổng lượt truy cập: 2067802

Nâng cao hiệu quả sinh hoạt khoa học của nghiên cứu sinh tại các khoa chuyên ngành của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Đăng lúc: Thứ sáu - 07/07/2017 05:03 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
          1. Tình hình, kết quả sinh hoạt khoa học của nghiên cứu sinh tại các khoa chuyên ngành Trường Đại học Cảnh sát nhân dân
          Trường Đại học Cảnh sát nhân dân với tiền thân là Trường Hạ sỹ quan CSND II, được thành lập ngày 24/4/1976. Trải qua 40 năm xây dựng và phát triển, với nhiều nhiệm vụ đào tạo khác nhau qua các thời kỳ, từ dạy ở bậc Trung học Cảnh sát, Cao đẳng Cảnh sát, tới Đại học Cảnh sát và đến năm 2006 thì Nhà trường được giao nhiệm vụ đào tạo thạc sĩ và đào tạo tiến sĩ từ năm 2011. Tính đến năm 2016, Nhà trường đã tổ chức tuyển sinh đào tạo 13 khóa cao học với 1601 học viên, 06 khóa tiến sĩ với 107 nghiên cứu sinh, trong đó 1296 học viên đã tốt nghiệp, 08 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Trường. Hiện nay nhà trường đã trở thành một cơ sở giáo dục có uy tín, có vị thế trong hệ thống các trường Công an nhân dân. Để có được những thành tựu như trên, ngoài việc thường xuyên nâng cao chất lượng công tác quản lý giáo dục, thực hiện đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, Nhà trường đã rất chú trọng đến công tác sinh hoạt khoa học tại các khoa chuyên ngành nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của các học viên.
         Theo quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ tại Thông tư số 10/2009/TT-BGD&ĐT ngày 7/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì nghiên cứu sinh là thành viên chính thức của đơn vị chuyên môn, có trách nhiệm báo cáo kế hoạch để thực hiện chương trình học tập, nghiên cứu và đề cương nghiên cứu với đơn vị chuyên môn. Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài luận án, nghiên cứu sinh phải tham gia đầy đủ và có báo cáo chuyên đề tại các buổi sinh hoạt khoa học của đơn vị chuyên môn; tham gia các sinh hoạt khoa học có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của mình ở trong và ngoài cơ sở đào tạo; định kỳ báo cáo kết quả học tập, nghiên cứu của mình với người hướng dẫn và đơn vị chuyên môn theo lịch do đơn vị chuyên môn quy định. Trong quá trình học tập, nghiên cứu sinh phải dành thời gian tham gia vào các hoạt động chuyên môn, trợ giảng, nghiên cứu, hướng dẫn sinh viên thực tập hoặc nghiên cứu khoa học tại cơ sở đào tạo theo sự phân công của đơn vị chuyên môn. Vào đầu mỗi năm học, nghiên cứu sinh phải nộp cho đơn vị chuyên môn báo cáo kết quả học tập và tiến độ nghiên cứu của mình bao gồm: những học phần, số tín chỉ đã hoàn thành; kết quả nghiên cứu, tình hình công bố kết quả nghiên cứu; đề cương nghiên cứu chi tiết, kế hoạch học tập, nghiên cứu của mình trong năm học mới để đơn vị chuyên môn xem xét đánh giá.
          Bên cạnh quy định trách nhiệm của nghiên cứu sinh, Thông tư cũng quy định trách nhiệm của đơn vị chuyên môn, theo đó “Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn định kỳ cho giảng viên và nghiên cứu sinh, ít nhất mỗi tháng một lần, để nghiên cứu sinh báo cáo chuyên đề và kết quả nghiên cứu; phân công nghiên cứu sinh giảng dạy; phân công hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học, đưa sinh viên đi thực hành, thực tập. Quy định lịch làm việc của nghiên cứu sinh với người hướng dẫn; lịch của đơn vị chuyên môn nghe nghiên cứu sinh báo cáo kết quả học tập, nghiên cứu trong năm học, đảm bảo ít nhất 4 lần một năm. Tổ chức xem xét đánh giá kết quả học tập, nghiên cứu; tinh thần, thái độ học tập, nghiên cứu; khả năng và triển vọng của nghiên cứu sinh và đề nghị thủ trưởng cơ sở đào tạo quyết định việc tiếp tục học tập đối với từng nghiên cứu sinh”.
          Thực hiện Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đã ban hành quy định về việc thực hiện Quy chế đào tạo tiến sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Ban hành kèm theo Quyết định số 934/ QĐ-T48(SĐH) ngày 14/10/2011 của Hiệu trưởng Trường Đại học Cảnh sát nhân dân) về việc yêu cầu các nghiên cứu sinh phải sinh hoạt khoa học tại khoa chuyên ngành. Mục đích của các buổi sinh hoạt khoa học là để các khoa chuyên ngành nắm bắt được tiến độ thực hiện luận án, tinh thần, thái độ học tập nghiên cứu của nghiên cứu sinh, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện luận án, trao đổi chuyên môn, hỗ trợ nghiên cứu sinh thực hiện luận án qua đó nâng cao chất lượng đào tạo của nghiên cứu sinh. Theo qui định, trong quá trình đào tạo, nghiên cứu sinh chịu sự quản lý về mặt khoa học của khoa chuyên ngành (được phân công cụ thể trong Quyết định giao đề tài luận án) và có những trách nhiệm cụ thể sau đây: Báo cáo kế hoạch học tập, kế hoạch nghiên cứu và đề cương nghiên cứu với khoa chuyên ngành; tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt khoa học, hội thảo khoa học của khoa chuyên ngành (có báo cáo chuyên đề); tham gia trợ giảng; báo cáo chuyên đề cho sinh viên của khoa; định kỳ phải báo cáo kết quả học tập, nghiên cứu của mình cho khoa chuyên ngành theo lịch do khoa quy định, ít nhất bốn lần trong một năm.
          Từ năm 2011 - 2016, mặc dù mới chỉ đào tạo 06 khóa tiến sĩ với 107 nghiên cứu sinh, trong đó có 08 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Trường, nhưng việc sinh hoạt khoa học tại các đơn vị quản lý khoa học đối với nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đã thực hiện theo đúng Quy chế Đào tạo tiến sĩ, công tác này bước đầu cũng đã có những chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả nhất định. Các nghiên cứu sinh sau khi nhận quyết định tên đề tài luận án đã chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện luận án, nghiên cứu, thu thập tài liệu tại các đơn vị quản lý khoa học. Việc sinh hoạt khoa học của các nghiên cứu sinh tại các khoa chuyên ngành cũng khá đa dạng về hình thức như: Tổ chức cho nghiên cứu sinh báo cáo các chuyên đề thực tế nghiệp vụ cho sinh viên các hệ, tham gia thực hiện các hoạt động song giảng với giảng viên của khoa chuyên ngành, tham gia các hội đồng khoa học như chấm phản biện các khóa luận tốt nghiệp, hội thảo các đề tài khoa học cấp cơ sở hoặc cấp bộ, hội thảo, nghiệm thu giáo trình, hoặc tham dự các buổi sinh hoạt chuyên môn của khoa… Đây là một thuận lợi rất lớn cho nghiên cứu sinh hoàn thành luận án theo tiến độ và nâng cao chất lượng của luận án (Riêng Khoa Cảnh sát điều tra có 22 nghiên cứu sinh được phân công sinh hoạt khoa học tại Khoa thì đã có 05 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp trường, 02 nghiên cứu sinh đã chấm xong các chuyên đề và chuẩn bị hội thảo cấp khoa. Quá trình sinh hoạt chuyên môn cụ thể của các nghiên cứu sinh tại Khoa Cảnh sát điều tra từ năm 2011 - 2016 là: Đã tổ chức báo cáo thực tế nghiệp vụ cho 10 lớp của các hệ chính quy, liên thông; tham gia phản biện 30 khóa luận tốt nghiệp, tham gia hội đồng nghiệm thu 02 giáo trình dùng cho bậc đại học).
          Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc sinh hoạt khoa học của các nghiên cứu sinh ở các khoa chuyên ngành vẫn còn những hạn chế như sau:
          Thứ nhất, tinh thần thái độ tham gia sinh hoạt khoa học của nghiên cứu sinh ở các khoa chuyên ngành còn hạn chế. Số nghiên cứu sinh có tinh thần trách nhiệm trong sinh hoạt khoa học dưới sự quản lý của khoa chuyên ngành còn khá thấp, đặc biệt là các nghiên cứu sinh không trực tiếp làm công tác giảng dạy, chủ yếu các nghiên cứu sinh tự chủ động nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực tiễn, làm việc với người hướng dẫn khoa học để viết luận án cho nên việc kết nối sinh hoạt khoa học giữa nghiên cứu sinh với đơn vị quản lý khoa học chưa thực sự phát huy có hiệu quả (vì thế nên mới chỉ có 8/107 nghiên cứu sinh bảo vệ luận án cấp trường).
          Thứ hai, nội dung sinh hoạt khoa học của nghiên cứu sinh tại các khoa chuyên ngành còn hạn chế. Việc hỗ trợ khoa học của các khoa chuyên ngành còn hạn chế. Bản chất suy cho đến cùng của việc nghiên cứu sinh tham gia sinh hoạt khoa học tại khoa chuyên ngành là được trao đổi chuyên môn, được hỗ trợ cho việc thực hiện luận án (phương pháp nghiên cứu; tài liệu nghiên cứu, kiến thức chuyên gia…). Tuy nhiên, do công tác đào tạo tiến sĩ của Nhà trường còn mới nên đội ngũ các nhà khoa học đầu ngành có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh còn hạn chế vì vậy, nội dung sinh hoạt khoa học còn “dàn trải” chưa “sát” với mong mỏi của nghiên cứu sinh.
          Thứ ba, công tác quản lý nghiên cứu sinh tham gia sinh hoạt khoa học tại các khoa chuyên ngành có đôi lúc chưa chặt chẽ. Mục đích của hoạt động sinh hoạt khoa học của nghiên cứu sinh tại các khoa chuyên ngành là để các khoa chuyên ngành nắm bắt được tiến độ thực hiện luận án, tinh thần, thái độ học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình nghiên cứu luận án để có biện pháp khắc phục. Chính vì vậy, nghiên cứu sinh luôn chịu sự quản lý của Khoa đào tạo Sau đại học và Bồi dưỡng nâng cao cũng như các khoa chuyên ngành nơi nghiên cứu sinh phân công sinh hoạt khoa học, mọi nhiệm vụ sinh hoạt khoa học mà nghiên cứu sinh thực hiện đều phải có sự kiểm tra, đánh giá. Tuy nhiên, trong thực tiễn của công tác quản lý vẫn còn có tình trạng “nể nang” “du di” cho nên vẫn còn có một số nghiên cứu sinh “ỷ lại” về thời gian nghiên cứu, “ỷ lại” về sự “nể nang” của cơ quan quản lý dẫn tới trễ thời hạn nghiên cứu…
          2. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sinh hoạt khoa học của nghiên cứu sinh tại các khoa chuyên ngành của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân
          Một là, quán triệt và thực hiện nghiêm túc quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ tại Thông tư số 10/2009/TT-BGD&ĐT ngày 7/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Quyết định số 934/QĐ-T48(SĐH) ngày 14/10/2011 của Hiệu trưởng Trường Đại học Cảnh sát nhân dân về việc yêu cầu các nghiên cứu sinh phải sinh hoạt khoa học tại khoa chuyên ngành. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ quản lý đào tạo sau đại học, lãnh đạo của các khoa chuyên ngành có nghiên cứu sinh tham gia sinh hoạt khoa học, người hướng dẫn khoa học và nghiên cứu sinh về tầm quan trọng của việc sinh hoạt khoa học tại các khoa chuyên ngành trong quá trình đào tạo tiến sĩ để đạt được mục tiêu, yêu cầu đào tạo. Xác định rõ trách nhiệm và mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể tham gia quá trình sinh hoạt khoa học của nghiên cứu sinh. Đặc biệt là nghiên cứu sinh phải tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt khoa học của Khoa chuyên ngành ít nhất 4 lần/năm; phải trình bày kết quả nghiên cứu khoa học tại Khoa chuyên ngành ít nhất 2 lần/năm; có Biên bản sinh hoạt chuyên môn, có xác nhận của Khoa chuyên ngành và gửi kèm sản phẩm khoa học đến Khoa Sau đại học và Bồi dưỡng nâng cao.
          Hai là, các khoa chuyên ngành có nghiên cứu sinh tham gia sinh hoạt khoa học cần phát huy vai trò của mình trong việc thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh. Trước hết phải phấn đấu chuẩn về chức danh, học hàm học vị (ít nhất phải có 2 giảng viên có học vị tiến sĩ/ khoa chuyên ngành) để có thể định hướng cho nghiên cứu sinh xây dựng kế hoạch thực hiện luận án của mình gắn với hoạt động chuyên môn tại đơn vị. Có kế hoạch kiểm tra đôn đốc, đánh giá các công trình khoa học của nghiên cứu sinh.
          Ba là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả cao các hình thức, nội dung hoạt động sinh hoạt khoa học tại khoa chuyên ngành để các nghiên cứu sinh tham gia như: Tham gia hội thảo giáo trình, tài liệu tham khảo, các chuyên đề chuyên sâu; báo cáo thực tế hoặc tham gia giảng dạy dưới hình thức song giảng (Giảng viên giảng lý thuyết, nghiên cứu sinh là cán bộ thực tiễn sẽ thực hiện các khâu xêmina, giải quyết tình huống…) hoặc tham gia các hội đồng khoa học… và đặc biệt nghiên cứu sinh có thể “ra yêu cầu về chủ đề” sinh hoạt khoa học đối với các khoa chuyên ngành để khoa chuyên ngành tổ chức hội thảo, qua đó giúp cho nghiên cứu sinh có thể nâng cao chất lượng luận án của mình.
          Bốn là, các khoa chuyên ngành có nghiên cứu sinh tham gia sinh hoạt khoa học phải thực sự là “đầu kết nối” với trung tâm lưu trữ và thư viện để giới thiệu, hướng dẫn nguồn tài liệu có liên quan đến luận án để nghiên cứu sinh tiếp cận khai thác để hoàn thành tốt kế hoạch thực hiện luận án.
          Năm là, Khoa Đào tạo Sau đại học cần tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ tại Thông tư số 10/2009/TT-BGD&ĐT ngày 7/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Quyết định số 934/ QĐ-T48(SĐH) ngày 14/10/2011 của Hiệu trưởng Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đối với hoạt động sinh hoạt khoa học của nghiên cứu sinh tại các khoa chuyên ngành để đảm bảo cho hoạt động này thực sự đạt hiệu quả.
Tác giả bài viết: Phạm Tuấn Hải
Nguồn tin: Bài viết đã được đăng tải trên Tạp chí KHGD CSND số 89 (tháng 5/2017)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc