Rss Feed

Một số vấn đề trao đổi về bình đẳng giới

Đăng lúc: Thứ sáu - 06/07/2018 09:15 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
        Giải phóng và phát triển toàn diện đối với phụ nữ là một trong những mục tiêu của Cách mạng Việt Nam, và là nhân tố cơ bản quyết định sự phát triển của đất nước, của dân tộc. Do vậy, ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng và Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta, vấn đề giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng nam nữ đã được xác định rất rõ ràng, và đã có nhiều chủ trương, chính sách để thực hiện giải phóng phụ nữ, tạo điều kiện để phụ nữ phát triển. Trong những năm gần đây, chúng ta hay dùng cụm từ “bình đẳng giới”. Vậy, “bình đẳng giới” là gì? Nội dung của nó như thế nào? Đây là vấn đề cần tìm hiểu để đi đến thống nhất trong nhận thức và hành động.
        1. Nhận thức chung về Bình đẳng giới
        Quan điểm “nam nữ bình quyền” của Đảng và Bác Hồ đã được xác định từ Cương lĩnh năm 1930, là một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của Cách mạng Việt Nam, tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết của Đảng trong các nhiệm kỳ, được thể chế hóa trong các bản Hiến pháp và nhiều văn bản Luật.
        “Bình đẳng giới” là thuật ngữ mới trong xã hội hiện đại, về thực chất không ra khỏi nội dung của vấn đề bình đẳng nam nữ, là mục tiêu và thước đo trình độ phát triển của xã hội.
        Bình đẳng giới theo quan niệm xã hội học là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ, cũng như giữa các tầng lớp phụ nữ trong xã hội, có xét đến đặc điểm riêng của nữ giới, được điều chỉnh bởi các chính sách đối với phụ nữ một cách hợp lý. Hay nói cách khác, bình đẳng giới là sự thừa nhận, sự coi trọng ngang nhau đối với các đặc điểm giới tính và sự thiết lập các cơ hội ngang nhau đối với nữ và nam trong xã hội.
        Theo Điều 5 Khoản 3 Luật Bình đẳng giới, “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.
        Bình đẳng giới thể hiện ở nhiều mặt:
        - Nữ và nam có điều kiện ngang nhau để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình.
        - Nữ và nam có cơ hội ngang nhau để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực của xã hội trong quá trình phát triển.
        - Nữ và nam có các quyền lợi ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
        Như vậy, bình đẳng giới không chỉ đơn giản là số lượng của phụ nữ và nam giới, hay trẻ em trai và trẻ em gái tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau, cũng không có nghĩa là nam giới và phụ nữ giống nhau, mà bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được công nhận và hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội, đồng thời, sự tương đồng và khác biệt giữa nam và nữ được công nhận. Từ đó nam và nữ có thể trải nghiệm những điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ các tiềm năng của họ, có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi bình đẳng từ công cuộc phát triển của quốc gia trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội.
        Bình đẳng giới vừa là vấn đề cơ bản về quyền con người vừa là yêu cầu về sự phát triển công bằng, hiệu quả và bền vững.
        Để biết mức độ bình đẳng giới trong quá trình phát triển, Liên hợp quốc sử dụng một thước đo là “chỉ số phát triển giới” (Gender Development Index - GDI). GDI được lần đầu tiên được sử dụng tại Báo cáo phát triển người năm 1995.
        Chỉ số phát triển giới (GDI) là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ (Điều 5 Khoản 9 Luật Bình đẳng giới).Chỉ số phát triển giới (GDI) càng tiến tới bằng 1 thì càng bình đẳng, và càng lùi về 0 thì càng bất bình đẳng. Năm 1995, Việt Nam có GDI=0,537 xếp vị trí thứ 74/130 nước; năm 1999, Việt Nam có GDI=0,662 xếp ở vị trí thứ 91/174 nước, trong đó nước có GDI cao nhất là Canada (GDI=0,928); năm 2005 GDI của Việt Nam là 0,702 đứng thứ 83/140 nước; năm 2009 GDI của Việt Nam 0,73 đứng thứ 94/182 nước.
        Mặt trái với bình đẳng giới là “định kiến giới”, là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ (Khoản 4 Điều 5 Luật Bình đẳng giới).
        Do các định kiến giới dẫn đến sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ, cũng như sự phân biệt đối xử về giới. “Phân biệt đối xử đối với phụ nữ” là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hoá việc phụ nữ được công nhận, hưởng thụ hay thực hiện một cách bình đẳng các quyền con người và những quyền tự do cơ bản trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự và các lĩnh vực khác, bất kể tình trạng hôn nhân của họ (Điều 1 Công ước Liên hợp quốc về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ CEDAW). Theo Khoản 5Điều 5 Luật Bình đẳng giới, "Phân biệt đối xử về giới là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình".
        Đặc điểm của bình đẳng giới:
        - Tính ngang quyền: để đạt được bình đẳng giới, phụ nữ cần được tạo điều kiện và cơ hội ngang bằng nam giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ví dụ, cần có quy định như nhau (bình đẳng), chung cho phụ nữ và nam giới về hưởng thụ các quyền và gánh vác các nghĩa vụ.  Đây là các quy định bình đẳng mang tính tối thiểu, không thể thiếu để đảm bảo về mặt pháp lý quyền bình đẳng nam nữ (công dân nam và nữ đều có quyền bầu cử, ứng cử; có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật; có quyền tự do kết hôn và tự do ly hôn...)
        - Tính ưu đãi: do đặc điểm sinh học và truyền giống của phụ nữ khác biệt so với nam giới, để đạt được bình đẳng giới cần có sự đối xử ưu đãi, khuyến khích đặc biệt và hợp lý đối với phụ nữ. Ví dụ phụ nữ phải đảm nhận chức năng sinh đẻ và nuôi con nhỏ, vì vậy pháp luật lao động quy định khi nữ lao động nghỉ thai sản họ vẫn được hưởng nguyên lương đồng thời được trợ cấp thai sản.
        - Tính linh hoạt: sự đối xử ưu đãi với phụ nữ cần được điều chỉnh linh hoạt trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không mang tính bất biến. Ví dụ, do đặc điểm sinh học của phụ nữ nên phụ nữ thường có thể chất yếu hơn và sức chịu đựng kém hơn so với nam giới, vì vậy pháp luật các nước đều có quy định cấm tuyển dụng nữ lao động trong các ngành nghề lĩnh vực nguy hiểm, nặng nhọc. Tuy nhiên, khi khoa học kỹ thuật phát triển, điều kiện lao động được cải thiện, cần có sự điều chỉnh cho phù hợp nhằm loại bỏ quy định cấm này đối với các ngành nghề, lĩnh vực đã được cải thiện điều kiện lao động, để tạo thêm cơ hội có việc làm cho phụ nữ.
        - Tính phân loại: bình đẳng giới không chỉ được xem xét vị thế của phụ nữ và nam giới trong xã hội mà còn được xem xét giữa các tầng lớp phụ nữ thuộc các thành phần xã hội khác nhau trong các vùng lãnh thổ khác nhau, trong phạm vi quốc gia và trên thế giới. Ví dụ quy định tăng độ tuổi nghỉ hưu đối với phụ nữ, thì mặt bằng chung này có thể có lợi cho nữ giới lao động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giảng dạy...nhưng lại bất lợi đối với nữ giới ở khu vực lao động nặng nhọc, phụ nữ nông thôn và phụ nữ trong khu vực kinh tế phi tiền tệ (nội trợ). Như vậy, quy định trên chỉ đem lại mặt bằng ưu tiên hạn hẹp, dẫn đến làm dãn khoảng cách đối xử và tạo ra phân biệt đối xử trong nữ giới nói chung.
        2. Công tác Bình đẳng giới tại trường Đại học CSND
        Những năm qua, Trường Đại học CSND luôn coi trọng xây dựng và phát triển các chính sách, chương trình, kế hoạch nhằm thúc đẩy bình đẳng giới, tạo điều kiện để đảm bảo quyền của phụ nữ. Đây là một trong những mục tiêu xuyên suốt trong từng năm học của Nhà trường. Cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Cấp ủy, lãnh đạo các đơn vị và toàn thể cán bộ, công nhân viên, sinh viên, đến nay nhiều mục tiêu về bình đẳng giới của trường đã và đang được triển khai hiệu quả.
        Ngày càng có nhiều phụ nữ đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo, tham gia cấp ủy trong các khoa, bộ môn, phòng, Trung tâm. Cán bộ nữ tham gia lãnh đạo chính quyền là 23 đồng chí, trong đó lãnh đạo cấp phòng và tương đương 13 đồng chí, lãnh đạo cấp đội và tương đương 10 đồng chí; đang trong diện quy hoạch 82 đồng chí. Cán bộ nữ tham gia cấp ủy 32 đồng chí: Cấp trên cơ sở: Đảng ủy viên 1 đồng chí; Cấp cơ sở: Bí thư 01 đồng chí, phó bí thư 08 đồng chí, chi ủy viên 10 đồng chí; Cấp ủy trực thuộc: Bí thư, phó bí thư 09 đồng chí, Chi ủy viên 03 đồng chí. Trong ban chấp hành Công đoàn, Đoàn thanh niên đều có thành viên nữ tham gia; nhiều sinh viên nữ tham gia làm cán bộ lớp, cán bộ tiểu đội, tham gia ban chấp hành đoàn thể…
        Cán bộ, công nhân viên nữ luôn được quan tâm, tạo điều kiện bình đẳng với nam giới trong nâng cao trình độ học vấn và thi đua, phát triển. Trình độ chuyên môn của cán bộ nữ ở trường ngày càng được nâng cao, tính trong tổng số 224 cán bộ, giảng viên, công nhân viên nữ của nhà trường thì hiện nay có 6 tiến sỹ, 34 thạc sỹ, 70 đại học, cao đẳng; có 8 chị trình độ cao cấplý luận chính trị, 77 trung cấp, 13 sơ cấp lý luận chính trị. Hằng năm, cán bộ nữ đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở dao động từ 10 đến 12 đồng chí. Nhiều công trình sáng kiến và đề tài nghiên cứu khoa học được cán bộ, hội viên nữ tham gia và được nghiệm thu đạt loại xuất sắc. Những kết quả trên đã khẳng định sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và hiệu quả của công tác bình đẳng giới tại trường Đại học CSND.
        Nhìn rộng ra thực tế hiện nay trong xã hội, công tác bình đẳng giới cũng đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. Song bên cạnh những kết quả tích cực, bình đẳng giới hiện nay vẫn còn một số hạn chế, bất cập nhất định. Bao trùm nhất là tư tưởng định kiến trọng nam khinh nữ. Việc thực hiện trong thực tế còn có khoảng cách với quy định pháp luật. Định kiến giới còn hiện diện trên một số mặt;tuyên truyền bình đẳng giới chưa thực sự phát huy sâu rộng; vẫn còn tồn tại quan niệm cổ hủ, lạc hậu, trọng nam khinh nữ, phụ nữ chỉ nên tập trung việc nội trợ, lo toan mọi thứ trong gia đình. Đáng nói là còn một bộ phận không nhỏ nữ giới chưa nhận thức đầy đủ về quyền được bình đẳng của mình, chấp nhận sự phân biệt đối xử một cách gần như là hiển nhiên. Vì thế, để cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới, bên cạnh các chương trình hành động, các chính sách hỗ trợ của chính phủ, sự bảo vệ của hệ thống pháp luật, các biện pháp tuyên truyền giáo dục, thì quan trọng hơn là tất cả mọi người, cả nam giới và nữ giới đều cần tự giác thay đổi quan niệm về phân biệt đối xử, nữ giới cũng cần phải tự nâng cao trình độ, sự hiểu biết để vừa tự bảo vệ bản thân, vừa tích cực tham gia các hoạt động xã hội, qua đó khẳng định tự ý thức về quyền được bình đẳng của mình.
        3. Giải pháp tăng cường bình đẳng giới
        Trong thời gian tới, để pháp luật về bình đẳng giới ngày càng có hiệu lực, hiệu quả, thiết nghĩ cần tiếp tục thực hiện các giải pháp sau đây:
        Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền Luật Bình đẳng giới để nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm trong thực hiện bình đẳng giới cho mọi người dân, giúp họ hiểu được trách nhiệm thực hiện bình đẳng giới không chỉ là của mỗi cá nhân, mà là trách nhiệm của mỗi gia đình, các đơn vị, tổ chức đoàn thể, quần chúng.Tích cực tổ chức tập huấn về giới và bình đẳng giới cho các đối tượng là cán bộ lãnh đạo, quản lý của các đơn vị, đoàn thể, những cán bộ trực tiếp tiến hành các hoạt động liên quan đến việc bảo đảm và thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ.
        Thứ hai, phải có sự phối kết hợp thống nhất, chặt chẽ giữa các đơn vị, đoàn thể để tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm nâng cao nhận thức về giới và ý thức trách nhiệm thực hiện bình đẳng giới cho cán bộ, đảng viên; lên án, đấu tranh chống tư tưởng coi thường phụ nữ, các hành vi phân biệt đối xử, xâm hại, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ.
        Thứ ba, cần phải có sự đầu tư, tạo điều kiện thích đáng cho hoạt động tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới cho các địa phương, đặc biệt là cấp cơ sở vì đây là cấp hành động, là cấp gần dân nhất. Tạo điều kiện để xây dựng tủ sách pháp luật nói chung, có liên quan đến bình đẳng giới nói riêng ở cơ sở là một hoạt động cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng trong công tác tuyên truyền, giáo dục.
        Thứ tư, chú trọng việc nêu gương tốt, điển hình trong thực hiện bình đẳng giới qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục; đồng thời tạo dư luận xã hội công khai qua công tác tuyên truyền với những vụ việc vi phạm về bình đẳng giới.
        Trực tiếp tại trường Đại học CSND, Nhà trường cần lồng ghép các đợt tuyên truyền, giáo dục pháp luật hằng năm, các buổi sinh hoạt chuyên đề, các phong trào, hoạt động của phụ nữ để làm tốt công tác tuyên truyền, góp phần nâng cao nhận thức và kỹ năng về bình đẳng giới cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý của nhà trường, giúp các đơn vị có sự triển khai, lồng ghép các chính sách về giới vào chương trình, kế hoạch công tác tại đơn vị được hiệu quả hơn. Song song đó, phải có sự phối kết hợp thống nhất, chặt chẽ giữa các đơn vị, đoàn thể trong nhà trường để giúp công tác tuyên truyền và tổ chức các hoạt động về giới, bình đẳng giới và phong trào phụ nữ tại trường được nhịp nhàng, thông suốt.
        Cấp ủy các cấp và lãnh đạo đơn vị tăng cường bồi dưỡng, tạo điều kiện cho cán bộ, hội viên nữ phấn đấu, phát triển, kịp thời ghi nhận thành quả công tác, cống hiến của chị em phụ nữ. Chủ động nắm tình hình, phát hiện, lên án, đấu tranh chống tư tưởng coi thường phụ nữ, các hành vi phân biệt đối xử, xâm hại, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ.Chú trọng việc nêu gương tốt, điển hình trong thực hiện bình đẳng giới tại trường.
        Hội Phụ nữ nhà trường cần mạnh dạn tham mưu và tổ chức các chương trình tuyên truyền, giáo dục chị em hội viên thêm tự tin, tự trọng, năng động, trách nhiệm và phát huy năng lực trong công tác cũng như trong tham gia phong trào, giúp cấp ủy Đảng, lãnh đạo các cấp có cơ sở ghi nhận. Bên cạnh đó, các đơn vị chức năng cũng cần chú ý tạo điều kiện về cơ chế phối hợp và kinh phí để công tác tuyên truyền và tổ chức các hoạt động về bình đẳng giới được chất lượng và hiệu quả hơn.
        Đối với sinh viên, việc tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới cần được thực hiện thường xuyên, chủ động lồng ghép với các chương trình học tập, rèn luyện tại trường. Đẩy mạnh tuyên truyền thông qua các hội thi tìm hiểu, hái hoa dân chủ, mạn đàm, tập huấn, phát tài liệu giáo dục về pháp luật, về giới và bình đẳng giới cho toàn thể sinh viên, trong đó có sinh viên nữ, giúp sinh viên nhận thức đúng những vấn đề giới và bình đẳng giới một cách cơ bản và hệ thống. Từ đó, các em có ý thức trách nhiệm về bình đẳng giới trong xây dựng gia đình và xã hội, có nền tảng cơ bản để sau này ra trường các em đấu tranh với những vụ việc vi phạm về bình đẳng giới, đồng thời góp phần nâng cao bình đẳng giới trong cơ quan, đơn vị và trong xã hội nơi công tác, sinh sống. 
        Bình đẳng giới là một trong các yếu tố để xác định một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Phụ nữ là một nửa thế giới, phải được tôn trọng, được công nhận giá trị, vai trò xã hội cũng như cống hiến của họ. Ông K. Matsuura, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO từng khuyến cáo: “Không nên xem bình đẳng giới một cách thiển cận như là vấn đề chỉ của riêng phụ nữ, nó đặt ra cho chúng ta những câu hỏi cơ bản về bản chất các mối quan hệ trong xã hội chúng ta. Đó là vấn đề đòi hỏi cả nam giới và phụ nữ cùng ngồi lại với nhau tìm ra các giải pháp sao cho vừa mang tính thực tiễn vừa phải dựa trên các nguyên tắc. Nhưng các giải pháp trên sẽ không được chấp nhận hay bền vững nếu sự bình quyền, chân giá trị, công việc của nam giới và nữ giới không được tôn trọng”. Như vậy, việc xây dựng xã hội có bình đẳng giới, bảo đảm bình đẳng giới là lời kêu gọi không chỉ của riêng nữ giới, mà là của mọi người, là mục tiêu cần sớm hoàn thành của các quốc gia, để từ đó góp phần xây dựng một thế giới phát triển bền vững.
Tác giả bài viết: Nguyễn Thanh Trung
Nguồn tin: *Bài viết đã được đăng tải trên Nội san Bông hồng xanh số 4
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc

 

Văn bản mới

Số: 991/BGDĐT-QLCL
Tên: (Về việc hướng dẫn thực hiện Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2018)

Ngày BH: (15/03/2018)

Số: Số: 430/QĐ-BCA-V19
Tên: (Ban hành Kế hoạch thực hiện dân chủ trong Công an nhân dân năm 2018)

Ngày BH: (29/01/2018)

Số: Số: 304/T48
Tên: (V/v khảo sát chất lượng đào tạo của Nhà trường)

Ngày BH: (14/03/2018)

Số: 13/2017/QH14
Tên: (Luật Cảnh vệ)

Ngày BH: (20/06/2017)

Số: Chỉ thị số 13-CT/TW
Tên: (Về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng)

Ngày BH: (12/01/2017)

Số: Thông tư 49/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự; thành phần, số người thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi và khai quật tử thi)

Ngày BH: (26/10/2017)

Số: Chỉ thị số 14-CT/TW
Tên: (Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng)

Ngày BH: (19/07/2017)

Số: 1884/QyĐ-T48
Tên: (Quy định về văn hóa ứng xử của cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên Trường Đại học CSND)

Ngày BH: (13/10/2017)

Số: 27/2017/TT-BCA
Tên: (Quy định về quy tắc ứng xử của Công an nhân dân)

Ngày BH: (22/08/2017)

Số: 124/2015/NĐ-CP
Tên: (NGHỊ ĐỊNH SỐ 185/2013/NĐ-CP NGÀY 15 THÁNG 11 NĂM 2013)

Ngày BH: (15/11/2013)