Rss Feed

Menu

Xây dựng phong cách người CAND bản lĩnh
Bông Hồng Xanh
40 năm
tap chi

Thống kê

  • Đang truy cập: 38
  • Hôm nay: 4658
  • Tháng hiện tại: 151338
  • Tổng lượt truy cập: 1478336

Thành tựu 10 năm đào tạo sau đại học của trường đại học cảnh sát nhân dân và định hướng phát triển

Đăng lúc: Thứ năm - 23/02/2017 21:32 - Người đăng bài viết: Tạp Chí
        1. Thành tựu
        1.1. Tình hình thực hiện nhiệm vụ đào tạo sau đại học tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân
        Trường Đại học Cảnh sát nhân dân được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập trên cơ sở Phân hiệu Học viện Cảnh sát nhân dân năm 2003. Tuy nhiên, Nhà trường đã chính thức nhận nhiệm vụ đào tạo từ năm 1989 khi là cơ sở phía Nam của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (nay là Học viện Cảnh sát nhân dân) với nhiệm vụ đào tạo trình độ đại học cho lực lượng Cảnh sát nhân dân ở phía Nam (từ Quảng Trị trở vào).
        Xuất phát từ nhu cầu đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ Công an các đơn vị, địa phương ở phía Nam, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đã chuẩn bị điều kiện về con người và cơ sở vật chất để xây dựng Đề án đào tạo trình độ thạc sĩ và được Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 115/QĐ-TTg ngày 20/01/2006 giao cho Trường nhiệm vụ đào tạo trình độ thạc sĩ; ngày 13/02/2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 641/QĐ-BGD&ĐT giao cho Trường đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Tội phạm học và Điều tra tội phạm. Đến năm 2011, Trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ luật học, chuyên ngành Tội phạm học và Điều tra tội phạm. Năm 2013, Trường được giao thêm nhiệm vụ đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Quản lý nhà nước về An ninh trật tự.
        Qua 10 năm phát triển công tác đào tạo sau đại học, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đã không ngừng nỗ lực trên nhiều lĩnh vực, khắc phục nhiều khó khăn để tổ chức đào tạo có chất lượng, hiệu quả, từng bước nâng cao trình độ cho cán bộ Công an các đơn vị, địa phương phía Nam.
        - Công tác mở mã ngành đào tạo:
        Nhận nhiệm vụ đào tạo cao học từ năm 2006, đến năm 2011, khi các điều kiện cần và đủ cho việc nhận nhiệm vụ đào tạo ở bậc cao hơn, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đã xây dựng Đề án đăng ký nhận nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ và được Bộ Giáo dục và Đào tạo ký Quyết định số 2727/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/7/2011 cho phép Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đào tạo trình độ tiến sĩ luật học, chuyên ngành Tội phạm học và Điều tra tội phạm (nay là chuyên ngành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm).
        Trước nhu cầu nâng cao trình độ và đào tạo cao học chuyên ngành Quản lý nhà nước về An ninh trật tự cho lực lượng Cảnh sát giao thông, lực lượng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội và các đối tượng tham mưu, quản lý, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đã xây dựng Đề án đăng ký chuyên ngành Quản lý nhà nước về An ninh trật tự và ngày 02/5/2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 1541/QĐ-BGD&ĐT cho phép Nhà trường đào tạo trình độ thạc sĩ chuyên ngành này.
        Như vậy, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đã và đang đào tạo trình độ sau đại học ở cả bậc thạc sĩ và tiến sĩ. Trong đó, trình độ tiến sĩ có 06 khoá với 108 nghiên cứu sinh và đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm có 13 khoá với 1.421 học viên, thạc sĩ chuyên ngành Quản lý nhà nước về An ninh trật tự có 3 khoá với 179 học viên.
        - Công tác xây dựng, sửa đổi, bổ sung chương trình đào tạo:
        Chương trình đào tạo là yếu tố nền tảng và có vai trò hết sức quan trọng, tác động sâu sắc đến chất lượng đào tạo.
        Căn cứ vào mục tiêu đào tạo nhằm trang bị cho học viên, nghiên cứu sinh những kiến thức lý luận và thực tiễn chuyên sâu; phương pháp làm việc, tư duy khoa học; khả năng nghiên cứu độc lập, sáng tạo; có năng lực phát hiện và giải quyết tốt những vấn đề thuộc công tác của lực lượng Công an nhân dân. Thực hiện phương châm gắn đào tạo với thực tiễn, trong những năm qua, Nhà trường luôn tập trung làm tốt công tác xây dựng chương trình đào tạo gồm những học phần kiến thức chung, học phần thuộc kiến thức cơ sở và chuyên ngành, trong đó học phần tự chọn luôn chiếm tối thiểu 25% khối lượng chương trình đào tạo. Nhiều học phần đi sâu vào kiến thức chuyên ngành như: Kỹ thuật điều tra hình sự, Chiến thuật điều tra hình sự... hoặc mang tính thời sự cao như: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các biện pháp công tác Công an trong phòng chống tội phạm ở nước ta hiện nay; Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp tác quốc tế trong công tác phòng chống tội phạm...
        Chương trình đào tạo luôn được quan tâm, sửa đổi, bổ sung theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đảm bảo mục tiêu, phù hợp với đối tượng đào tạo và bám sát yêu cầu thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trong Công an nhân dân. Từ năm 2006 đến nay, Nhà trường đã tiến hành 03 lượt sửa đổi, bổ sung các chương trình đào tạo sau đại học như: Điều chỉnh thời lượng giảng dạy môn Ngoại ngữ, áp dụng chương trình đào tạo môn Triết học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Điều chỉnh tên chuyên ngành đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ theo Thông tư số 04/2012/TT-BGDĐT ngày 15/2/2012 và Thông tư số 33/2013/TT-BGDĐT ngày 05/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
        - Công tác tuyển sinh và tổ chức giảng dạy
        Xác định tuyển sinh là một trong những nội dung quan trọng nhất mang lại chất lượng đào tạo ở trình độ sau đại học. Từ năm 2006 đến nay, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đã ban hành 13 lượt Thông báo tuyển sinh, gửi đến 26 cục, vụ, viện, nghiệp vụ, trường Công an nhân dân, 34 Công an các đơn vị, địa phương và 33 trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng ở phía Nam. Nhà trường cũng đã tiếp nhận 2.521 hồ sơ đăng ký dự thi, dự tuyển sau đại học, lập danh sách dự thi cho 2.451 thí sinh và tổ chức thành công 13 kỳ thi tuyển sinh cao học, 06 kỳ xét tuyển nghiên cứu sinh đảm bảo khách quan, công bằng, chính xác.
        Để tổ chức đào tạo các lớp sau đại học đạt hiệu quả, Nhà trường xây dựng kế hoạch đào tạo các khoá thạc sĩ, tiến sĩ khoa học, phù hợp. Chủ động phân công nhiệm vụ cho đội ngũ giảng viên cơ hữu, giảng viên thỉnh giảng và các nhà khoa học giảng dạy theo đúng chương trình đào tạo. Trong quá trình giảng dạy, ngoài việc thường xuyên đổi mới nội dung, áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực, Nhà trường cũng đa dạng hoá các hình thức kiểm tra đánh giá phù hợp với nội dung cụ thể của từng môn học. Trong đó, hình thức thi tự luận chiếm 55,30%, làm tiểu luận chiếm 38,64% và viết báo cáo chuyên đề chiếm 6,06%. Kết quả kiểm tra đánh giá cũng cho thấy đa số học viên, nghiên cứu sinh đạt yêu cầu ở lần đánh giá môn học đầu tiên (chiếm trên 99,91%).
        - Tổ chức thực hiện luận văn, luận án
        Để tổ chức cho học viên, nghiên cứu sinh thực hiện luận văn, luận án đáp ứng nhu cầu lý luận và thực tiễn, Nhà trường chủ động làm tốt công tác xét duyệt tên đề tài, đề cương nghiên cứu và ra quyết định giao đề tài, phân công người hướng dẫn cho các học viên, nghiên cứu sinh. Tính từ năm 2006 đến nay, trong tổng số 1.713 nghiên cứu sinh, học viên cao học đã và đang đào tạo, Nhà trường đã ra quyết định giao đề tài cho 1.559 trường hợp, trong đó đội ngũ nhà khoa học tham gia hướng dẫn khoa học ngoài các giảng viên cơ hữu (gồm có 01 giáo sư, 11 phó giáo sư, 53 tiến sĩ) còn có 15 giáo sư, 32 phó giáo sư, 33 tiến sĩ là giảng viên thỉnh giảng.
        Trước khi ra quyết định chấm luận văn, luận án, Trường quan tâm đến công tác thẩm định, trong đó yêu cầu học viên, nghiên cứu sinh nộp trước 01 bản luận văn, luận án có phê duyệt của người hướng dẫn để thẩm định. Trường hợp thẩm định phát hiện luận văn, luận án chưa đạt thì kiên quyết yêu cầu học viên, nghiên cứu sinh chỉnh sửa trước khi hội thảo, bảo vệ.
        Về công tác tổ chức Hội đồng đánh giá luận văn, luận án: Nhà trường luôn thực hiện đúng quy chế về việc thành lập Hội đồng đánh giá. Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm có 5 thành viên có học vị tiến sĩ từ 02 năm trở lên, hoặc chức danh giáo sư, hoặc phó giáo sư am hiểu những vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn; trong đó có ít nhất 2 thành viên ở ngoài cơ sở đào tạo và một người trong đó phải là phản biện. Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ có 7 thành viên có học vị tiến sĩ từ 03 năm trở lên, hoặc chức danh giáo sư, hoặc phó giáo sư cùng chuyên ngành đào tạo với nghiên cứu sinh, am hiểu sâu sắc những vấn đề có liên quan đến luận án; Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp cơ sở có ít nhất 3 thành viên ngoài cơ sở đào tạo, Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Trường có ít nhất 4 thành viên ngoài cơ sở đào tạo.
        Có thể khẳng định, việc tổ chức cho học viên thực hiện luận văn, nghiên cứu sinh thực hiện luận án tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân là nghiêm túc, chặt chẽ và đảm bảo đúng quy định. Trung bình mỗi năm, Nhà trường đã tiến hành mời trên 300 lượt các nhà khoa học là giáo sư, phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ đến tham dự việc hội thảo, đánh giá luận văn, luận án. Kết quả, trong tổng số 1.296 học viên đã bảo vệ luận văn, 7 nghiên cứu sinh bảo vệ luận án, 100% các trường hợp có kết quả đánh giá đạt yêu cầu, số học viên bảo vệ đúng tiến độ chiếm 95,66%, số học viên có kết quả bảo vệ loại xuất sắc gần 95%.
        - Về hợp tác quốc tế trong tổ chức đào tạo
        Mặc dù chưa có chương trình hợp tác quốc tế chuyên sâu về đào tạo sau đại học nhưng từ năm 2006 đến nay, Nhà trường đã cử 35 lượt cán bộ đi tham quan, nghiên cứu, học tập ở nước ngoài (Singapore 15 lượt, Hàn Quốc 7 lượt, Nhật Bản 4 lượt, Campuchia 5 lượt, Thái Lan và Hoa Kỳ 2 lượt); đón và làm việc với 24 đoàn khách quốc tế đến thăm và làm việc tại Trường; phối hợp với Tổng cục Chính trị Công an nhân dân, Tổng cục Cảnh sát nhân dân mời các nhà khoa học, các chuyên gia nước ngoài tổ chức 11 lượt thuyết trình, hội thảo và báo cáo thực tế; 07 lượt tập huấn phòng chống ma tuý, chống buôn bán người và bồi dưỡng, huấn luyện võ thuật cho cán bộ, giảng viên, sinh viên nhà trường như: Báo cáo chuyên đề về “Khoa học giám định và ảnh hưởng của khoa học giám định”, “Hệ thống cải tạo và nhà tù Liên bang tại Hoa Kỳ”, “Bào chữa trong Tố tụng hình sự và Sự phối hợp với Cơ quan Điều tra”, “Kinh nghiệm chống buôn bán người và đưa người di cư trái phép”, “Tội phạm rửa tiền”, “Quyền của bị cáo theo Luật Quốc tế và Luật Hoa Kỳ”...
        Những kết quả bước đầu của công tác hợp tác quốc tế về đào tạo cũng như mối quan hệ phối hợp giữa Nhà trường và các đơn vị, địa phương đã và đang được thực hiện tốt, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời khẳng định uy tín và vị thế của Nhà trường đối với công tác giảng dạy, nghiên cứu của ngành Công an.
        1.2. Kết quả đạt được và hạn chế trong công tác đào tạo sau đại học
        - Kết quả đạt được:
        + Công tác đào tạo trình độ sau đại học của Nhà trường đã đi vào nề nếp, đảm bảo chặt chẽ và ngày càng chất lượng. Trên cơ sở quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà trường đã xây dựng quy định, hướng dẫn đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ để tạo cơ sở pháp lý đảm bảo cho hoạt động đào tạo sau đại học.
        + Nhà trường đã có kinh nghiệm trong công tác xây dựng các chương trình đào tạo, tuyển sinh, quản lý giảng dạy, xét chọn, giao đề tài, tổ chức các hội đồng đánh giá luận văn, luận án. Học viên, nghiên cứu sinh có kết quả kiểm tra, đánh giá học phần loại khá, giỏi, xuất sắc luôn chiếm tỷ lệ trên 70%. Học viên, nghiên cứu sinh bảo vệ luận văn xếp loại xuất sắc chiếm 94,65%. Không có học viên có kết quả bảo vệ luận văn loại trung bình, khá.
        + Nhà trường đã từng bước xây dựng được đội ngũ cán bộ, giảng viên có trình độ cao để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công tác đào tạo nói chung và đào tạo sau đại học nói riêng. Tính đến nay, Nhà trường đã có đội ngũ giảng viên cơ hữu gồm: 01 giáo sư, 11 phó giáo sư, 53 tiến sĩ, 191 thạc sĩ và đội ngũ giảng viên thỉnh giảng gồm: 15 giáo sư, 32 phó giáo sư, 33 tiến sĩ.
        + Nhà trường đã từng bước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, trang bị nhiều phương tiện và thiết bị hiện đại, biên soạn các loại tài liệu dạy học, xây dựng riêng hệ thống thư viện sau đại học với 157 luận án tiến sĩ, 1.200 luận văn thạc sĩ; 49 nhiệm vụ khoa học cấp bộ, 02 nhiệm vụ khoa học cấp tỉnh, thành phố, 207 nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở; 528 loại tài liệu nghiệp vụ; 166 nhan đề tài liệu tra cứu; gần 500 sách chuyên khảo, tài liệu tham khảo, kỷ yếu hội thảo khoa học; Trong đó hệ thống giáo trình, tài liệu dạy học sau đại học là 12 giáo trình, 15 đề cương bài giảng thạc sĩ chuyên ngành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm; 06 giáo trình, 22 đề cương bài giảng thạc sĩ chuyên ngành Quản lý nhà nước về An ninh trật tự; 04 giáo trình và 03 đề cương bài giảng chuyên đề tiến sĩ.
        + Kết quả của quá trình đào tạo từ năm 2006 đến nay, Nhà trường đã cung cấp cho các trường Công an nhân dân, Công an các đơn vị, địa phương phía Nam trên 1.300 cán bộ có trình độ sau đại học (trong đó có 07 đồng chí tiến sĩ), góp phần tích cực vào việc bảo vệ An ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Nhiều đồng chí sau khi tốt nghiệp ra trường đã phát triển, bổ nhiệm chức vụ Giám đốc Công an tỉnh, lãnh đạo cấp Vụ, Cục, Ban Giám hiệu các trường Công an nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh hoặc lãnh đạo cấp phòng, cấp đội. Những kết quả này góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, đồng thời thắt chặt thêm mối quan hệ giữa Nhà trường với Công an các đơn vị, địa phương.
        - Hạn chế:
        + Chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ trong quá trình thực hiện phát hiện có những điểm chưa phù hợp, cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện. Nội dung một số môn học thuộc phần kiến thức chuyên ngành còn nặng về lý luận, có những vấn đề chưa gắn liền với thực tiễn công tác nghiệp vụ của ngành Công an; tính liên thông, nâng cao kiến thức trong một số môn học của chương trình đào tạo thạc sĩ so với hệ cử nhân, chương trình đào tạo tiến sĩ so với hệ cao học chưa thể hiện rõ nét.
        + Công tác quản lý đào tạo sau đại học đã đi vào nề nếp, đảm bảo tuân thủ theo quy chế. Tuy nhiên, việc quản lý giảng dạy, học tập ở một số thời điểm và một số môn học không đúng theo kế hoạch đào tạo. Phương pháp giảng dạy của một số giảng viên chưa phong phú, chưa rèn luyện cho học viên, nghiên cứu sinh khả năng nghiên cứu độc lập, sáng tạo.
        + Công tác tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học phần chưa tạo được động lực kích thích học viên, nghiên cứu sinh tự giác lên lớp nghe giảng hoặc đến thư viện tra cứu, tìm hiểu kiến thức trong giáo trình, tài liệu tham khảo... Nhiều đề thi, chủ đề tiểu luận chỉ kiểm tra kiến thức lý luận có sẵn do đó hiệu quả kiểm tra, đánh giá chưa cao.
        + Một bộ phận học viên, nghiên cứu sinh chưa đầu tư nhiều thời gian, công sức cho việc học và viết luận văn, luận án; chất lượng một số luận văn thạc sĩ, chuyên đề luận án tiến sĩ chưa đảm bảo yêu cầu. Còn tình trạng học viên, nghiên cứu sinh chưa hoàn thành luận văn, luận án đúng tiến độ.
        + Công tác xây dựng đội ngũ giảng viên tuy có nhiều chuyển biến, đội ngũ giảng viên có học hàm, học vị tiến sĩ tăng nhanh nhưng do còn mới nên chưa có nhiều giảng viên đủ tiêu chuẩn tham gia giảng dạy, hướng dẫn luận văn, luận án (giảng viên cơ hữu chỉ có 01 giáo sư, 11 phó giáo sư, 30 tiến sĩ đủ điều kiện hướng dẫn luận văn, 01 giáo sư, 11 phó giáo sư, 8 tiến sĩ đủ điều kiện hướng dẫn luận án) nên chưa đáp ứng toàn diện yêu cầu của hoạt động khoa học. Một số lĩnh vực khoa học, môn học chưa có giảng viên cơ hữu là chuyên gia hàng đầu để phục vụ công tác đào tạo sau đại học.
        + Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo sau đại học như phòng học, phòng đánh giá luận văn, luận án, các loại trang thiết bị, phương tiện phục vụ dạy học chưa đồng bộ, hiện đại. Công tác biên soạn các tài liệu dạy học còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo. Công tác giao lưu, hợp tác quốc tế chưa đi vào chiều sâu để phục vụ thiết thực cho các hoạt động đào tạo.
        - Nguyên nhân của những hạn chế
        + Chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm hiện nay của Nhà trường được xây dựng theo mã ngành đào tạo Tội phạm học và Điều tra tội phạm trước đây của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sau đó, Bộ Công an có văn bản đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo đổi tên chuyên ngành Tội phạm học và Điều tra tội phạm thành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm nhưng lại không hướng dẫn việc sửa đổi nội dung chương trình đào tạo. Do đó, một số nội dung trong chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm chưa phù hợp với tên trong danh mục mới. Đồng thời, chương trình đào tạo sau đại học của ngành Công an thiếu nội dung đào tạo về lĩnh vực điều tra tội phạm.
        + Đội ngũ giảng viên của Nhà trường đang trong thời kỳ trẻ hoá và tập trung chủ yếu trong quá trình học tập nâng cao trình độ nên chưa có nhiều giảng viên đủ tiêu chuẩn tham gia giảng dạy, hướng dẫn luận văn, luận án. Khu vực phía Nam có ít nhà khoa học trong lĩnh vực Khoa học An ninh nên việc mời giảng viên thỉnh giảng, báo cáo viên gặp nhiều khó khăn.
        + Ý thức, tinh thần học tập, rèn luyện của một bộ phận học viên, nghiên cứu sinh chưa tốt. Nhiều học viên, nghiên cứu sinh chưa thật sự cố gắng trong học tập, nghiên cứu, thực hiện luận văn, luận án dẫn đến tình trạng chậm tiến độ hoặc chưa đảm bảo chất lượng.
        + Điều kiện cơ sở vật chất của Nhà trường còn hạn chế, kinh phí Bộ cấp cho Nhà trường hàng năm có hạn. Nhà trường không có thêm nguồn kinh phí tự chủ để mua sắm trang thiết bị, đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng thư viện phục vụ công tác đào tạo sau đại học.
        2. Định hướng phát triển công tác đào tạo sau đại học tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân giai đoạn 2016 - 2025
        Trong những năm vừa qua, tình hình kinh tế, xã hội trên địa bàn cả nước nói chung và các tỉnh, thành phố phía Nam nói riêng có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, nhiều vấn đề phức tạp về an ninh trật tự nảy sinh đòi hỏi lực lượng Công an nhân dân phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức để đáp ứng nhu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn An ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, nhu cầu học tập đại học và sau đại học ngày càng cao. Cho nên trong lĩnh vực sau đại học, số lượng cán bộ Công an nhân dân ở các đơn vị, địa phương phía Nam có nhu cầu học tập trình độ thạc sĩ, tiến sĩ ngày càng tăng.
        Căn cứ vào yêu cầu của thực tiễn và khả năng đào tạo, từ nay đến năm 2025, Nhà trường định hướng phát triển công tác đào tạo sau đại học như sau:
        Một là, mở rộng quy mô và chuyên ngành đào tạo sau đại học. Theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, danh mục các chuyên ngành đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ của lực lượng Cảnh sát nhân dân gồm có: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm; Điều tra hình sự; Điều tra trinh sát; Kỹ thuật hình sự; Quản lý nhà nước về An ninh trật tự; Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp. Căn cứ nhu cầu và năng lực đào tạo, trong thời gian tới, Nhà trường sẽ chuẩn bị các điều kiện cần thiết đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Công an cho phép mở mã ngành đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Điều tra trinh sát, Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp và đào tạo tiến sĩ chuyên ngành Quản lý nhà nước về An ninh trật tự (giai đoạn 2016 - 2020), phấn đấu đến năm 2025 đào tạo tất cả các chuyên ngành thạc sĩ trong danh mục đào tạo lực lượng Cảnh sát nhân dân.
        Hai là, đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ. Với nhận thức về vị thế, sứ mệnh của Nhà trường trong công tác đào tạo nguồn nhân lực cho Công an các đơn vị, địa phương ở phía Nam, Nhà trường xác định phải đổi mới mạnh mẽ, triệt để, toàn diện công tác đào tạo sau đại học từ mục tiêu cho đến chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo để thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo trong Công an nhân dân; gắn vấn đề phát triển quy mô với nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tầm nhìn đến năm 2030.
        Ba là, làm tốt công tác bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu thuộc biên chế Nhà trường mà nhất là giảng viên thuộc các Khoa nghiệp vụ Cảnh sát hình sự, Cảnh sát điều tra, Cảnh sát kinh tế, Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội. Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đội ngũ giảng viên cơ hữu phấn đấu đạt được các học vị, chức danh khoa học để đảm trách nhiệm vụ đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trong thời gian tới. Quyết tâm quán triệt và thực hiện các chỉ tiêu trong Nghị quyết đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 13 (2015 - 2020) và phấn đấu đến năm 2020 có 35% giảng viên đạt trình độ tiến sĩ; 60% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ; 35% cán bộ quản lý đạt trình độ tiến sĩ; 60% cán bộ quản lý đạt trình độ thạc sĩ các học vị, chức danh khoa học theo Quyết định 1229/QĐ-TTg, ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án quy hoạch tổng thể, nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong Công an nhân dân. Tiếp tục thực hiện kế hoạch luân chuyển có thời hạn giảng viên, nhất là số giảng viên dưới 40 tuổi có trình độ tiến sĩ chưa qua thực tế về công tác tại các đơn vị, địa phương, nhằm nâng cao kiến thức phục vụ giảng dạy.
        Bốn là, tăng cường phối hợp với các nhà khoa học, cán bộ thực tiễn và Công an các đơn vị, địa phương nhằm phối hợp cung cấp các tài liệu nghiệp vụ, báo cáo tổng kết, sơ kết… để giảng viên giảng dạy sau đại học có điều kiện nắm bắt thực tiễn công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm. Tăng cường bổ sung đội ngũ giảng viên thỉnh giảng để nâng cao chất lượng và năng lực khoa học trong công tác đào tạo.
        Năm là, đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý đào tạo sau đại học, thực hiện nghiêm túc tất cả các khâu từ tuyển sinh, nhập học, giảng dạy, kiểm tra, đánh giá, giao đề tài và tổ chức hội đồng đánh giá luận văn, luận án đúng quy chế đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các quy định của Bộ Công an. Đồng thời phải đảm bảo tính khoa học, sáng tạo và không ngừng đổi mới.
        Sáu là, tăng cường biên soạn tài liệu dạy học, đầu tư cơ sở vật chất, hiện đại hoá công tác lưu trữ và thư viện phục vụ đào tạo sau đại học. Đổi mới phương pháp đào tạo để khai thác mạnh mẽ kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học, luận văn, luận án trong nghiên cứu, dạy học và biên soạn tài liệu.
        Bảy là, tăng cường quan hệ giao lưu, hợp tác và hợp tác quốc tế trong công tác đào tạo sau đại học. Ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các cơ sở đào tạo trong ngành Công an như Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện An ninh nhân dân, Trường Đại học An ninh nhân dân... Đồng thời lựa chọn hợp tác với một số cơ sở đào tạo ngoài ngành cùng nghiên cứu về lĩnh vực pháp luật như Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế Luật... Nhà trường sẽ triển khai các nội dung hợp tác với các cơ sở đào tạo ở nước ngoài như Đại học Cảnh sát quốc gia Hàn Quốc, Đại học Cảnh sát liên bang Oxtraylia… theo hướng đi vào chiều sâu, đảm bảo thiết thực, hiệu quả, tập trung khai thác thế mạnh của mỗi bên để trao đổi kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, trao đổi giảng viên tham gia giảng dạy, trao đổi nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, tài liệu, giáo trình dạy học hoặc tổ chức các hội thảo quốc tế để nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học.
          Tóm lại, sau 10 năm đào tạo sau đại học, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đã đào tạo 108 nghiên cứu sinh, 1.600 học viên cao học là cán bộ của Công an các đơn vị, địa phương phía Nam, trong đó có 7 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án cấp Trường và được cấp bằng tiến sĩ, 1.296 học viên đã bảo vệ luận văn và được cấp bằng thạc sĩ. Tất cả các mặt công tác đào tạo sau đại học đều đảm bảo đúng quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các quy định của Bộ Công an. Các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo như: cơ sở vật chất; chương trình, giáo trình, tài liệu dạy học; đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục… đã được đáp ứng và ngày càng hoàn thiện. Kết quả đào tạo của Nhà trường góp phần quan trọng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ Công an ở phía Nam. Tổng kết 10 năm công tác đào tạo sau đại học của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, trên cơ sở những thành tựu được đánh giá và định hướng phát triển. Nhà trường hy vọng nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sắc từ các cấp lãnh đạo, sự tham gia nhiệt tình của các nhà khoa học, sự phối hợp, giúp đỡ hiệu quả của các đơn vị chức năng và Công an các địa phương; sự nỗ lực, cố gắng của các nghiên cứu sinh, học viên cao học. Tất cả chúng ta hãy “chung tay, góp sức”, xây dựng Trường Đại học Cảnh sát nhân dân xứng đáng trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học hàng đầu của lực lượng Công an nhân dân ở phía Nam.
Tác giả bài viết: Thiếu tướng, GS.TS Trịnh Văn Thanh - Hiệu trưởng Trường Đại học CSND
Nguồn tin: Bài đã được đăng trên Tạp chí KHGD CSND số 85 - 01/2017
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc